vanban.org

Điều 19. Chế độ báo cáo đối với Bên bảo lãnh — Thông tư 37/2013/TT-NHNN

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ban hành 31/12/2013 Hiệu lực 14/02/2014 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 4 phiên bản · 12 năm
Thông tư số 37/2013/TT-NHNN Hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ bảo lãnh cho người không cư trú · 37/2013/TT-NHNN
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 37/2013/TT-NHNN › Chương V › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Chế độ báo cáo đối với Bên bảo lãnh

Thay cụm từ/đính chính bởi 17/2026/TT-NHNN · hiệu lực 25/07/2026

1. Trong thời hạn mười (10) ngày làm việc kể từ ngày ký cam kết bảo lãnh, Bên bảo lãnh là tổ chức kinh tế có trách nhiệm thực hiện báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản lý ngoại hối) và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực nơi bên bảo lãnh đặt trụ sở chính khoản bảo lãnh cho người không cư trú theo mẫu đính kèm tại Phụ lục 06 kèm theo Thông tư này.

Thay cụm từ/đính chính bởi 17/2026/TT-NHNN · hiệu lực 25/07/2026

2. Định kỳ hàng tháng (chậm nhất vào ngày 10 của tháng tiếp theo), hàng năm (chậm nhất vào ngày 31 tháng 01 của năm tiếp theo, Bên bảo lãnh là tổ chức kinh tế thực hiện báo cáo Ngân hàng Nhà nước (Cục Quản lý ngoại hối) và Ngân hàng Nhà nước chi nhánh Khu vực nơi bên bảo lãnh đặt trụ sở chính tình hình thu hồi nợ phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh (theo Phụ lục 07 kèm theo Thông tư này).

3. Bên bảo lãnh (hoặc đại diện bên bảo lãnh) là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện chế độ thông tin báo cáo theo quy định hiện hành về bảo lãnh ngân hàng.

4. Trường hợp đột xuất, Bên bảo lãnh (hoặc đại diện bên bảo lãnh) thực hiện báo cáo theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước.