Điều 3. Lập danh mục các công trình nạo vét kết hợp tận thu sản phẩm
1. Nhà nước ưu tiên và khuyến khích các nhà đầu tư tham gia hoạt động nạo vét luồng đường thủy nội địa, vùng nước cảng, bến thủy nội địa kết hợp tận thu sản phẩm, không sử dụng ngân sách nhà nước phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và của nhà đầu tư.
2. Cơ quan quản lý đường thủy nội địa căn cứ quy hoạch phát triển được duyệt, cấp kỹ thuật, hiện trạng luồng đường thủy nội địa, vùng nước cảng, bến thủy nội địa tổ chức lập danh mục các dự án (công trình) thực hiện đầu tư nạo vét theo hình thức kết hợp tận thu sản phẩm, không sử dụng ngân sách nhà nước trên các tuyến đường thủy nội địa, trình cơ quan quản lý nhà nước về đường thủy nội địa xem xét, phê duyệt trước ngày 30 tháng 9 hàng năm.
3. Danh mục các dự án (công trình) phải có những nội dung chủ yếu sau:
a) Tên dự án;
b) Mục tiêu của dự án;
c) Địa điểm thực hiện dự án;
d) Tóm tắt các thông số kỹ thuật, chuẩn tắc thiết kế chủ yếu của công trình, khối lượng nạo vét dự kiến; thời gian thực hiện.
4. Cơ quan quản lý nhà nước về đường thủy nội địa thẩm định và phê duyệt danh mục các dự án (công trình) thực hiện đầu tư nạo vét kết hợp tận thu sản phẩm, không sử dụng ngân sách nhà nước đối với các tuyến đường thủy nội địa và vùng nước cảng, bến thủy nội địa.
Đối với danh mục dự án trên luồng đường thủy nội địa, vùng nước cảng bến thủy nội địa quốc gia, Bộ Giao thông vận tải tổ chức lấy ý kiến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án đi qua trước khi quyết định.
5. Danh mục dự án (công trình) đã được phê duyệt có thể được sửa đổi, bổ sung trong trường hợp quy hoạch hoặc hiện trạng luồng đường thủy nội địa, vùng nước cảng bến thủy nội địa thay đổi hoặc đã được phê duyệt kế hoạch thực hiện bằng nguồn vốn khác.