Điều 21. Tiếp nhận hồ sơ vụ việc từ cơ quan tố tụng hình sự chuyển trả
1. Khi tiếp nhận vụ việc thuộc vụ án hình sự không bị khởi tố được chuyển giao để xử lý vi phạm hành chính do cơ quan tố tụng hình sự chuyển đến thực hiện theo Điều 33 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP. Người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đang thụ lý vụ án đó phải ra quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính.
Hồ sơ vụ vi phạm bao gồm: bản sao biên bản về vụ vi phạm, quyết định đình chỉ điều tra đối với đối tượng, tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm (nếu có) và bản sao các tài liệu khác liên quan trực tiếp đến người vi phạm đó. phải có quyết định chuyển hồ sơ vụ vi phạm đến người có thẩm xử lý vi phạm hành chính, quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án kèm theo tài liệu, tang vật, phương tiện để vi phạm (nếu có) và phải lập biên bản bàn giao.
Biên bản bàn giao phải ghi đầy đủ từng tài liệu, tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có trong hồ sơ chuyển giao, người giao và người nhận phải ký vào biên bản bàn giao.
2. Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ việc từ cơ quan tố tụng hình sự chuyển trả:
a) Trường hợp xét thấy vượt thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của mình thì báo cáo thủ trưởng trực tiếp và chuyển hồ sơ vụ việc đến người có thẩm quyền xử phạt;
b) Trường hợp đủ tài liệu, chứng cứ xác định được hành vi vi phạm hành chính thì lập ngay biên bản vi phạm hành chính, ban hành quyết định và tổ chức thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính;
c) Trường hợp cần xét thấy vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp cần có thời gian xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ thì người có thẩm quyền xử phạt phải báo cáo cấp trên trực tiếp của mình bằng văn bản xin gia hạn.
Thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thực hiện theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP.