Điều 12. Về áp dụng hệ thống biểu mẫu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 180/2007/NĐ-CP và Nghị định số 23/2009/NĐ-CP
1. Khi phát hiện hành vi vi phạm trật tự xây dựng đô thị quy định tại Nghị định số 180/2007/NĐ-CP và hành vi vi phạm trật tự xây dựng được quy định tại Điều 11; Điều 25; khoản 3 Điều 38; điểm d khoản 4 Điều 42; điểm e khoản 3, điểm a khoản 4 Điều 52; điểm a khoản 2 Điều 54 của Nghị định số 23/2009/NĐ-CP thì người có thẩm quyền đang thi hành công vụ phải kịp thời lập biên bản theo Phụ lục II Nghị định số 23/2007/NĐ-CP.
Biên bản này là căn cứ để ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Phụ lục III Nghị định số 23/2009/NĐ-CP và quyết định đình chỉ thi công xây dựng công trình theo Phụ lục II, Phụ lục III, Phụ lục IV Nghị định số 180/2007/NĐ-CP. Trường hợp hành vi vi phạm trật tự xây dựng thuộc khu vực nông thôn thì trong các biểu mẫu bỏ chữ “đô thị”.
Việc xử phạt được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 23/2009/NĐ-CP; việc xử lý phá dỡ được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 180/2007/NĐ-CP.
2. Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính khác không phải là hành vi vi phạm trật tự xây dựng thì người có thẩm quyền phải kịp thời lập biên bản theo Phụ lục I Nghị định số 23/2009/NĐ-CP. Việc xử phạt được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 23/2009/NĐ-CP.
3. Tổ chức, cá nhân có nhiều hành vi vi phạm trong đó có hành vi vi phạm trật tự xây dựng thì người có thẩm quyền lập chung một biên bản theo mẫu quy định tại Phụ lục II Nghị định số 23/2009/NĐ-CP.
4. Trường hợp thanh tra, kiểm tra phát hiện có vi phạm hành chính thì cơ quan thanh tra, kiểm tra lập biên bản theo mẫu quy định tại Nghị định số 23/2009/NĐ-CP và chuyển người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt theo quy định trừ trường hợp có ý kiến của Thủ tướng Chính phủ.
5. Đại diện của tổ chức, cá nhân vi phạm ghi trong các mẫu biên bản là người được tổ chức, cá nhân vi phạm phân công thực hiện nhiệm vụ tại công trình xảy ra vi phạm.