vanban.org

Điều 47. , quy chế lao động quy định: "hàng tháng, người lao động có nghĩa vụ nộp 10% tiền lương vào quỹ bảo hiểm xã hội địa phương để chi các chế độ bảo hiểm xã hội". — Thông tư 19-LĐTBXH/TT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 31/12/1990 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Ban hành 31/12/1990 Hiệu lực 31/12/1990 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 19-LĐTBXH/TT › Điều 47
Đọc toàn văn

Điều 47. , quy chế lao động quy định: "hàng tháng, người lao động có nghĩa vụ nộp 10% tiền lương vào quỹ bảo hiểm xã hội địa phương để chi các chế độ bảo hiểm xã hội".

Tiền lương ở đây là mức lương chính tính theo tháng ghi trong hợp đồng lao động, không tính theo mức thu nhập thực tế của người lao động. Việc thu nộp được thực hiện tập trung tại xí nghiệp qua các kỳ trả lương hàng tháng và xí nghiệp có trách nhiệm chuyển nộp kịp thời cho cơ quan lao động địa phương (hoặc Công ty bảo hiểm xã hội).

Người lao động Việt Nam về nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động được hưởng mọi chế độ như công nhân, viên chức của các xí nghiệp ở trong nước về nghỉ hưu hoặc nghỉ mất sức lao động. Những người không đủ điều kiện về nghỉ hưu hoặc nghỉ mất sức lao động thì được hưởng chế độ thôi việc theo quy định hiện hành.

Thủ tục cũng như nguồn kinh phí trả cho người lao động khi về nghỉ hưu hoặc mất sức lao động do cơ quan lao động địa phương (hoặc Công ty bảo hiểm xã hội) giải quyết.

Khoản tiền 10% bảo hiểm xã hội này không bắt buộc đối với lao động là người nước ngoài.

IX- AN TOÀN LAO ĐỘNG - BẢO VỆ SỨC KHOẺ

Xí nghiệp có trách nhiệm bảo đảm an toàn và bảo vệ sức khoẻ cho người lao động theo các điều khoản 48, 49, 50 Quy chế lao động.

1. Việc khai báo trước khi xí nghiệp hoạt động:

Trước khi hoạt động, xí nghiệp phải khai báo với cơ quan lao động địa phương về các nội dung sau:

Địa điểm của xí nghiệp;

Các yếu tố nguy hiểm, có hại có thể phát sinh trong quá trình xí nghiệp hoạt động;

Các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người lao động và bảo vệ môi sinh, môi trường xung quanh.

Phương án phòng, chống cháy nổ và xử lý cấp cứu khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố gây ô nhiễm môi trường.

2. Việc trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân:

Xí nghiệp cấp cho người lao động các loại phương tiện bảo vệ cá nhân phù hợp với yêu cầu bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với công việc mà họ phải thực hiện.

Đối với các loại phương tiện bảo vệ cá nhân, nếu thiếu nó có thể dẫn đến tai nạn lao động, ví dụ: găng, ủng cách điện, chịu dầu, chịu chất ăn mòn, dây an toàn, mặt nạ phòng độc, quần áo đặc biệt chống nóng, chống chất ăn mòn, quần áo lặn, v.v... thì nhất thiết không được tính trả bằng tiền cho người lao động.

Trong hợp đồng lao động cần ghi rõ loại phương tiện bảo vệ cá nhân mà người lao động được cấp và thời gian sử dụng cho từng loại.

3. Về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp:

Mọi trường hợp xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đều phải thực hiện đúng chế độ khai báo, điều tra lập biên bản và báo cáo theo quy định của Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam.

Xí nghiệp có trách nhiệm bảo hiểm cho người lao động tại cơ quan bảo hiểm Việt Nam với mức bồi thường cho một người lao động bị chết, hoặc mất khả năng lao động từ 81% trở lên do tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp không do lỗi của người lao động, ít nhất là 8.000 đôla Mỹ (tám nghìn đô la Mỹ).

Các mức còn lại thì tuỳ theo tỉ lệ thương tật và tỉ lệ mất khả năng lao động vĩnh viễn, người lao động được hưởng mức bồi thường theo quy định của cơ quan bảo hiểm Việt Nam.

4. Việc sử dụng lao động nữ và người dưới 18 tuổi:

Danh mục những nghề và công việc độc hại, nặng nhọc, nguy hiểm được ban hành tại phụ lục B kèm theo Thông tư này.

Bản danh mục có thể được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội bổ sung, sửa đổi khi cần thiết.

5. Việc xử lý những vi phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động:

Xí nghiệp vi phạm pháp luật và những quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động gây ra, hoặc có khả năng gây ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ô nhiễm môi trường thì tuỳ theo mức độ nặng, nhẹ mà bị xử phạt theo quy định của Pháp lệnh về xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

X- THANH TRA, KIỂM TRA LAO ĐỘNG

Thanh tra lao động cấp tỉnh, thanh tra lao động của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, viên chức được Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội uỷ quyền, có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy chế lao động, thoả ước lao động tập thể và các quy định về lao động tại xí nghiệp.

Việc thanh tra, kiểm tra theo định kỳ phải có đề cương thông báo trước Giám đốc xí nghiệp.

Các đợt thanh tra, kiểm tra bất thường phải do Chánh Phó thanh tra lao động cấp tỉnh, Chánh Phó thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và xã hội chủ trì và phải báo cáo kết quả các cuộc thanh tra với Bộ trưởng Bộ lao động - Thương binh và xã hội, kèm theo những kiến nghị của mình.

XI- GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG

1. Trình tự giải quyết:

a. Khiếu nại:

Giám đốc xí nghiệp cũng như người lao động có quyền đề đạt các khiếu nại của mình về những vẫn đề thuộc quan hệ lao động tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đề nghị giải quyết.

Trước hết, những khiếu nại này phải được trình bày tại Sở Lao động - Thương binh và xã hội địa phương. Chỉ sau khi Sở giải quyết mà đương sự cho là không thoả đáng, khiếu nại mới được chuyển lên Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.

Sở Lao động - Thương binh và xã hội có trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ việc khiếu nại, kèm văn bản về việc giải quyết vụ khiếu nại mà đương sự chưa nhất trí lên Bộ Lao động - Thương binh và xã hội.

Đương sự có thể tự mình trình bày vụ khiếu nại lên Bộ Lao động - Thương binh và xã hội với điều kiện có kết quả giải quyết vụ khiếu nại ở cấp Sở bằng văn bản, và các giấy tờ liên quan.

b. Hoà giải và trọng tài:

Khi có tranh chấp lao động Giám đốc xí nghiệp cùng người lao động, công đoàn xí nghiệp (hoặc đại diện lao động) tiến hành thương lượng để giải quyết trong phạm vi 7 ngày kể từ ngày có một bên đưa ra bất đồng của mình với phía bên kia.

Nếu thương lượng không thành, tranh chấp nói trên được hoà giải theo thủ tục sau:

Hoà giải do Sở Lao động - Thương binh và xã hội làm trung gian, tổ chức trong vòng 7 ngày, kể từ ngày Sở nhận được đề nghị của một trong các bên tranh chấp.

Sở Lao động - Thương binh và xã hội có thể lập một Hội đồng trọng tài và tổ chức việc xem xét vụ tranh chấp, trong vòng 10 ngày kể từ khi nhận được dề nghị của một trong các bên tranh chấp.

Hai bên có thể cùng đề nghị một cá nhân nào đó đứng ra làm trọng tài hoặc đề nghị Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cử trọng tài với cam kết thực hiện theo kết luận của trọng tài. Việc lựa chọn và giải quyết được tiến hành trong vòng 15 ngày kể từ khi các bên nhất trí lựa chọn trọng tài hoà giải. Các bên tranh chấp có quyền chọn một trong 3 hình thức hoà giải nêu trên để giải quyết tranh chấp mà không cần tuân theo thứ tự sắp đặt của 3 hình thức đó.

Chỉ sau khi đã áp dụng các bước nêu trên mà kết quả không thoả đáng, các bên mới đệ trình vụ tranh chấp lên Bộ Lao động - Thương binh và xã hội giải quyết.

Trong vòng 20 ngày, kể từ khi nhận được hồ sơ vụ tranh chấp, Bộ sẽ đưa ra các kết luận về vụ tranh chấp.

Tuy nhiên, nếu thấy không thoả đáng, các bên có quyền đề nghị Toà án nhân dân xét xử.

c. Các bước hoà giải, trọng tài nêu trên cần được Giám đốc xí nghiệp và tập thể lao động thoả thuận lựa chọn và ghi vào trong thoả ước lao động tập thể.

XII- ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Bãi bỏ tất cả quy định của các Bộ, ngành, địa phương và những thoả thuận của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội trước đây trái với quy định tại Quy chế lao động và Thông tư hướng dẫn này.

Thủ trưởng các Bộ, ngành liên quan, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Lao động - Thương binh và xã hội. Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và xã hội. Giám đốc và người lao động các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thi hành Quy chế lao động và các quy định, hướng dẫn chi tiết tại Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc đề nghị phản ảnh kịp thời về Bộ Lao động - Thương binh và xã hội nghiên cứu giải quyết.

 

Trần Đình Hoan

(Đã ký)