vanban.org

Điều 8. Quy đổi các hoạt động nghiên cứu khoa học, sản phẩm khoa học của nhà giáo — Thông tư 188/2021/TT-BQP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/12/2022 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Quốc phòng Ban hành 31/12/2021 Hiệu lực 15/12/2022 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 2 đời thông tư · 3 phiên bản · 9 năm
Thông tư số 188/2021/TT-BQP Quy định về định mức giờ chuẩn giảng dạy và nghiên cứu khoa học đối với nhà giáo trong Quân đội nhân dân Việt Nam · 188/2021/TT-BQP
15/12/2022Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư số 96/2017/TT-BQP Quy định về định mức giờ chuẩn giảng dạy và nghiên cứu khoa học đối với nhà giáo trong Quân đội nhân dân Việt Nam · 96/2017/TT-BQP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 188/2021/TT-BQP › Chương III › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Quy đổi các hoạt động nghiên cứu khoa học, sản phẩm khoa học của nhà giáo

1. Một đề tài cấp cơ sở (do Giám đốc, Hiệu trưởng nhà trường phê duyệt) được tính bằng 1.200 giờ hành chính; cấp cơ sở (do Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thủ trưởng tổng cục, Thủ trưởng đơn vị quản lý trường phê duyệt) được tính bằng 1.800 giờ hành chính; cấp bộ được tính bằng 2.400 giờ hành chính; cấp quốc gia được tính bằng 3.600 giờ hành chính.

2. Một sáng kiến cấp cơ sở (do Giám đốc, Hiệu trưởng nhà trường phê duyệt) được tính bằng 300 giờ hành chính; cấp cơ sở (do Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thủ trưởng tổng cục, Thủ trưởng đơn vị quản lý trường phê duyệt) được tính bằng 450 giờ hành chính; cấp bộ được tính bằng 600 giờ hành chính; cấp quốc gia được tính bằng 900 giờ hành chính.

3. Một giáo trình, tài liệu dạy học, tài liệu huấn luyện, điều lệ, điều lệnh được tính bằng 1.200 giờ hành chính.

4. Một bài báo khoa học được công bố trên tạp chí khoa học có mã số xuất bản (ISSN) hoặc 01 báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học cấp cơ sở (do Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng cục Chính trị, Thủ trưởng tổng cục, Thủ trưởng đơn vị quản lý trường phê duyệt) được tính bằng 300 giờ hành chính. Một báo cáo khoa học tại hội thảo khoa học cấp bộ được tính bằng 450 giờ hành chính; cấp quốc gia được tính bằng 600 giờ hành chính.

5. Hướng dẫn học viên nghiên cứu 01 đề tài khoa học cấp cơ sở (do Giám đốc, Hiệu trưởng nhà trường phê duyệt) được đánh giá xếp loại: Xuất sắc được tính bằng 75 giờ hành chính; đạt yêu cầu được tính bằng 30 giờ hành chính.

6. Thành viên hội đồng khoa học cấp cơ sở (do Giám đốc, Hiệu trưởng nhà trường phê duyệt) thông qua 01 đề cương đề tài, sáng kiến, giáo trình, tài liệu dạy học được tính bằng 3,0 giờ hành chính; nghiệm thu 01 đề tài, sáng kiến, giáo trình, tài liệu dạy học được tính bằng 6,0 giờ hành chính.

7. Một sản phẩm khoa học có nhiều thành viên tham gia thì xác định như sau: Có 2 thành viên tham gia thì chủ nhiệm, chủ biên được hưởng 2/3 số giờ hành chính quy đổi từ sản phẩm khoa học; có 03 thành viên tham gia thì chủ nhiệm, chủ biên được hưởng 1/2 số giờ hành chính quy đổi từ sản phẩm khoa học; có hơn 03 thành viên tham gia thì chủ nhiệm, chủ biên được hưởng 1/3 số giờ hành chính quy đổi từ sản phẩm khoa học, số giờ hành chính còn lại được chia theo giá trị đóng góp của mỗi thành viên kể cả chủ nhiệm, chủ biên. Trường hợp không xác định được giá trị đóng góp của mỗi thành viên thì số giờ hành chính còn lại được chia đều cho từng thành viên tham gia bao gồm cả chủ nhiệm, chủ biên.

8. Một sản phẩm khoa học thực hiện trong nhiều năm thì số giờ hành chính tính cho từng năm bằng tổng số giờ hành chính quy đổi từ sản phẩm khoa học chia đều cho tổng số năm thực hiện theo quy định.

9. Giám đốc, Hiệu trưởng nhà trường quy định cụ thể thời gian nghiên cứu khoa học được quy đổi từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, sản phẩm khoa học khác của nhà giáo cho phù hợp.