Điều 11. Các hình thức thông tin, tuyên truyền
1. Các hình thức thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo được hỗ trợ thực hiện theo quy định tại Phần III Điều 1 Quyết định số 219/QĐ-TTg. Việc lựa chọn hình thức, ngôn ngữ thể hiện phải phù hợp với đối tượng thụ hưởng (bao gồm bằng tiếng dân tộc, tiếng nước ngoài), đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của xã hội, có tính quần chúng, dễ hiểu, dễ tiếp cận; đảm bảo linh hoạt, hiệu quả về truyền thông đối với từng loại đối tượng, tránh trùng lắp.
2. Tuyên truyền thông qua báo chí, xuất bản phẩm, trang thông tin điện tử:
a) Tuyên truyền trên báo in, tạp chí in: Đề án hỗ trợ thực hiện các ấn phẩm, phụ trương của báo in, tạp chí in theo chủ đề thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án (không hỗ trợ thực hiện các tác phẩm đơn lẻ đăng chung vào sản phẩm báo in, phát hành định kỳ thuộc hoạt động thường xuyên của cơ quan báo chí).
b) Tuyên truyền trên báo điện tử, trang thông tin điện tử: Đề án hỗ trợ sản xuất, đăng tải các tác phẩm có chủ đề thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án trên chuyên trang của báo điện tử, trang thông tin điện tử theo quy định của pháp luật;
c) Tuyên truyền trên báo nói, báo hình: Đề án hỗ trợ thực hiện sản xuất, phát sóng (kể cả khai thác, phát lại) các chương trình phát thanh, truyền hình tuyên truyền theo chủ đề thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án, không hỗ trợ duy trì hoạt động mang tính thường xuyên cho các chuyên mục, kênh phát thanh, truyền hình;
d) Tuyên truyền thông qua xuất bản phẩm: Đề án hỗ trợ tổ chức bản thảo, mua bản thảo, xuất bản, in, phát hành xuất bản phẩm đến đối tượng thụ hưởng (bao gồm: Xuất bản phẩm in, xuất bản phẩm điện tử); không hỗ trợ thực hiện xuất bản phẩm trong đó có nội dung thuộc nhiệm vụ của Đề án và các tác phẩm có các chủ đề khác.
3. Hỗ trợ hoạt động tuyên truyền thông qua các hình thức khác (bao gồm hỗ trợ sản xuất các sản phẩm thông tin, tuyên truyền phù hợp với hình thức thực hiện):
a) Hoạt động thông tin cơ sở (thực hiện theo Quy chế hoạt động thông tin cơ sở ban hành kèm theo Quyết định số 52/2016/QĐ-TTg ngày 06 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ); coi trọng tuyên truyền thông qua người có uy tín của các dân tộc thiểu số;
b) Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, du lịch (bao gồm hoạt động sáng tác, dàn dựng, công diễn, sản xuất, phát hành tác phẩm nghệ thuật; tổ chức trưng bày lưu động các sản phẩm để tuyên truyền thực hiện mục tiêu của Đề án);
c) Tổ chức tìm hiểu theo các chủ đề cho các đối tượng để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án;
d) Tổ chức các hội thảo, diễn đàn theo các chủ đề thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án;
đ) Lồng ghép phổ biến sản phẩm thông tin, tuyên truyền tại các cơ sở giáo dục - đào tạo, thư viện, điểm bưu điện - văn hóa xã; trong các hội nghị chuyên đề;
e) Hoạt động thông tin, tuyên truyền trên mạng Internet, mạng xã hội;
g) Thông qua hoạt động đối ngoại, hoạt động của cơ sở ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và các tổ chức của người Việt Nam ở nước ngoài; thông qua các tổ chức quốc tế và hoạt động hợp tác với báo chí nước ngoài;
h) Thông qua các hoạt động khác.
4. Tuyên truyền trên cơ sở hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào sản xuất, phát hành, đăng tải các sản phẩm thông tin điện tử theo Điều 12 Thông tư này.
5. Các cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền thuộc Đề án có trách nhiệm đề xuất lựa chọn chủ đề, các hình thức thực hiện phù hợp, chú trọng khả năng kết hợp, lồng ghép nhiều hình thức để phát huy hiệu quả về truyền thông, tiết kiệm chi phí cho Nhà nước.
6. Các sản phẩm thông tin, tuyên truyền thuộc Đề án bằng hình thức báo nói, báo hình và đăng tải trên mạng Internet, mạng xã hội không được chèn, ghép quảng cáo thương mại vào trong tác phẩm và trước khi phát sóng.
7. Đối với những sản phẩm báo chí, xuất bản phẩm được Bộ Thông tin và Truyền thông đề nghị cơ quan liên quan đánh giá trước khi in, phát sóng, đăng tải trên mạng Internet, mạng xã hội, các cơ quan báo chí, nhà xuất bản, cơ quan, đơn vị chủ trì thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ có trách nhiệm tổ chức đánh giá theo quy định.