vanban.org

Điều 10. Các trường hợp bị từ chối cấp giấy phép, bị thu hồi giấy phép — Thông tư 13/2011/TT-BTTTT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/02/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/02/2015
Bộ Thông tin và Truyền thông Ban hành 06/06/2011 Hiệu lực 01/09/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Thông tư số 13/2011/TT-BTTTT Quy định về Văn phòng đại diện tại Việt Nam của nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài · 13/2011/TT-BTTTT
15/02/201523/2014/TT-BTTTTSửa đổi Đang xem 01/09/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 13/2011/TT-BTTTT › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Các trường hợp bị từ chối cấp giấy phép, bị thu hồi giấy phép

1. Nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài bị từ chối cấp giấy phép thành lập (đặt) Văn phòng đại diện tại Việt Nam theo một hoặc nhiều trường hợp sau đây:

a) Trong thời hạn 02 (hai) năm, kể từ ngày bị thu hồi giấy phép theo quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Có lý do hoặc bằng chứng cho thấy việc đặt Văn phòng đại diện gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Việt Nam, vi phạm điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

2. Nhà xuất bản nước ngoài, tổ chức phát hành xuất bản phẩm nước ngoài bị thu hồi giấy phép thành lập (đặt) Văn phòng đại diện tại Việt Nam và buộc phải chấm dứt hoạt động của Văn phòng đại diện theo một hoặc nhiều trường hợp sau đây:

a) Văn phòng đại diện hoạt động không đúng nội dung ghi trong giấy phép;

b) Vi phạm quy định tại Điều 10 của Luật Xuất bản;

c) Không thành lập (đặt) Văn phòng đại diện hoặc Văn phòng đại diện không hoạt động trong 06 tháng kể từ ngày được cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép;

d) Vi phạm các điểm b, c, d khoản 1 Điều 9 của Thông tư này;

đ) Có lý do hoặc bằng chứng cho thấy, trong quá trình hoạt động, Văn phòng đại diện gây phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Việt Nam, vi phạm điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quan hệ của Việt Nam với một hoặc nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.