vanban.org

Điều 5. Lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước — Thông tư 117/2025/TT-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 30/01/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Bộ Tài chính Ban hành 16/12/2025 Hiệu lực 30/01/2026 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 4 đời thông tư · 6 phiên bản · 19 năm
Thông tư 117/2025/TT-BTC Quy định lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ tổ chức các giải thi đấu thể thao tại Việt Nam · 117/2025/TT-BTC
30/01/2026Bản gốcThay thế Hiện hành
Thông tư liên tịch số 200/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL Quy định chế độ chi tiêu tài chính đối với các giải thi đấu thể thao · 200/2011/TTLT-BTC-BVHTTDL
Thông tư liên tịch số 02/2009/TTLT/BTC-BVHTTDL Quy định chế độ chi tiêu tài chính đối với các giải thi đấu thể thao · 02/2009/TTLT/BTC-BVHTTDL
Thông tư liên tịch số 106/2006/TTLT/BTC-UBTDTT Quy định chế độ chi tiêu tài chính cho các giải thi đấu thể thao · 106/2006/TTLT/BTC-UBTDTT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 117/2025/TT-BTC › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước

Việc lập dự toán, chấp hành ngân sách nhà nước và quyết toán kinh phí thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật về kế toán, pháp luật về thể dục, thể thao, pháp luật khác có liên quan và các quy định sau đây:

1. Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch, nhiệm vụ tổ chức các giải thi đấu thể thao được cấp có thẩm quyền phê duyệt, dự kiến nguồn thu từ bán vé xem thi đấu, tài trợ, quảng cáo, bán bản quyền phát thanh, truyền hình và các nguồn thu hợp pháp khác (nếu có), cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách được giao nhiệm vụ tổ chức giải phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan, lập dự toán đề nghị ngân sách nhà nước hỗ trợ, tổng hợp vào dự toán của cơ quan, đơn vị mình, gửi cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp chung vào dự toán của đơn vị dự toán cấp I gửi cơ quan tài chính cùng cấp trình cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

2. Căn cứ dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán ngân sách cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc để thực hiện nhiệm vụ tổ chức giải theo quy định.

3. Sau khi kết thúc giải, cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tập hợp chứng từ thu, chi và quyết toán kinh phí (bao gồm nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn khác) theo đúng các quy định về chế độ quản lý tài chính hiện hành, tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước của cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và pháp luật về kế toán.

4. Trường hợp nguồn ngân sách nhà nước đã bảo đảm kinh phí tổ chức giải thi đấu theo chế độ quy định được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thì kinh phí huy động, đóng góp, ủng hộ, tài trợ phải nộp ngân sách nhà nước (trừ các nội dung thực hiện theo yêu cầu riêng của nhà tài trợ, đóng góp, ủng hộ căn cứ hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận theo quy định của pháp luật).
Đối với các nguồn thu từ bán vé xem thi đấu, tài trợ, quảng cáo, đóng góp của các đoàn thể thao quốc gia tham dự, bán bản quyền phát thanh, truyền hình và các nguồn thu hợp pháp khác (nếu có): Cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức giải lập kế hoạch thu và quản lý thu khoa học, công khai, minh bạch; sử dụng kinh phí do cơ quan tổ chức giải thi đấu quyết định theo quy định tại Điều 4 Thông tư này (trừ các khoản đầu tư, đóng góp, tài trợ, viện trợ có địa chỉ thực hiện theo yêu cầu của nhà tài trợ); số còn lại (nếu có) nộp vào ngân sách nhà nước. Nguồn thu này được quản lý, theo dõi trên sổ sách, tài khoản riêng.