vanban.org

Điều 5. , NĐ 197/CP) ban đêm 35% — Thông tư 11-LĐTBXH/TT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Ban hành 03/05/1995 Hiệu lực 01/01/1995 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 11-LĐTBXH/TT › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. , NĐ 197/CP) ban đêm 35%

Đối với lao động được trả lương theo sản phẩm, lương khoán nếu làm thêm vào ban đêm thì đơn giá tiền lương được tăng thêm ít nhất 30% hoặc ít nhất 35% so với đơn giá tiền lương làm việc vào ban ngày.

Người lao động hưởng theo sản phẩm, lương khoán nếu làm thêm vào ban đêm thì đơn giá tiền lương được tăng thêm ít nhất 30% hoặc ít nhất 35% so với đơn giá tiền lương làm việc vào ban ngày.

Trường hợp sản phẩm làm thêm giờ vào ban đêm thì tiền lương giờ làm thêm được tính trả như làm thêm giờ vào ban ngày, cộng với tiền lương trả thêm khi làm việc vào ban đêm.

4. Chế độ nâng lương:

a) Việc nâng lương đối với người lao động do người sử dụng lao động quyết định sau khi tham khảo ý kiến của Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức Công đoàn lâm thời nơi chưa có tổ chức Công đoàn chính thức theo nguyên tắc sau:

Số người được nâng lương hàng năm trong doanh nghiệp phụ thuộc vào yêu cầu công việc hoặc thời gian làm việc tại doanh nghiệp.

Căn cứ để nâng bậc lương là tiêu chuẩn kỹ thuật; tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ.

b) Điều kiện nâng bậc:

Như đã giao kết hợp đồng, không xác định thời gian hoặc hợp đồng xác định thời gian từ 1 năm trở lên; người giữ chức vụ do Hội đồng quản trị thuê điều hành doanh nghiệp.

Trong hợp đồng lao động hoặc thoả ước lao động tập thể có nội dung nâng bậc lương.

Thời gian xét nâng bậc lương như sau:

+ Trường hợp doanh nghiệp áp dụng hệ thống thang lương, bảng lương do Nhà nước quy định thì người lao động phải có ít nhất 2 năm (đủ 24 tháng) đối với các chức danh có hệ số mức lương khởi điểm (bậc 1) thấp hơn 1,78; phải có ít nhất 3 năm (đủ 36 tháng) đối với các chức danh có hệ số mức lương khởi điểm (bậc 1) từ 1,78 trở lên kể từ thời điểm xếp lương hoặc nâng bậc lương trước đó.

+ Trường hợp doanh nghiệp chưa xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương thì đối với người lao động có thời gian đào tạo nghề dưới 24 tháng có thời gian 2 năm (24 tháng) làm việc tại doanh nghiệp được nâng bậc lương ít nhất bằng 10% mức lương ghi trong hợp đồng lao động, đối với người lao động có thời gian đào tạo nghề từ 24 tháng trở lên có thời gian 3 năm (36 tháng) làm việc tại doanh nghiệp được nâng bậc lương ít nhất bằng 7% mức lương ghi trong hợp đồng lao động.

+ Đối với người làm việc tích cực, có hiệu quả thì người sử dụng lao động có thể nâng bậc sớm hơn thời gian quy định trên.

c) Nâng bậc:

Người thuộc diện nâng bậc, để được nâng bậc thì doanh nghiệp phải tổ chức thi nâng bậc:

Thi nâng bậc đối với công nhân là tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật ứng với công việc mà người đó đảm nhận.

Thi nâng bậc đối với viên chức chuyên môn nghiệp vụ thừa hành phục vụ là tiêu chuẩn chức danh chuyên môn nghiệp vụ.

Trường hợp doanh nghiệp chưa có tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ thì người sử dụng lao động phải quy định tạm thời một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật, chuyên môn gắn chặt với nội dung công việc hoặc trách nhiệm được giao trên cơ sở tham khảo ý kiến của tổ chức Công đoàn cơ sở hoặc đại diện của tập thể người lao động nơi chưa có tổ chức Công đoàn.

d) Mức lương được nâng bậc theo hệ thống thang lương, bảng lương do doanh nghiệp xây dựng. Quyết định nâng bậc lương ký từ ngày nào thì được hưởng lương mới từ ngày đó.

e) Từ nay trở đi các doanh nghiệp căn cứ vào Thông tư này lập kế hoạch nâng bậc lương hàng năm trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp để tổ chức thi nâng bậc và quyết định nâng bậc lương cho diện được nâng bậc lương thuộc doanh nghiệp quản lý.

5. Việc trích thưởng từ lợi nhuận còn lại theo khoản 2 Điều 9 của Nghị định số 197/CP được thực hiện như sau:

a) Đối tượng được xét thưởng:

Lao động có thời gian làm việc tại doanh nghiệp từ 1 năm trở lên.

Có đóng góp vào kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

b) Mức thưởng của một năm không thấp hơn 1 tháng lương ghi trong hợp đồng lao động.

c) Quy chế thưởng: Doanh nghiệp phải xây dựng quy chế thưởng theo nguyên tắc sau:

Căn cứ vào hiệu quả đóng góp của người lao động đối với doanh nghiệp thể hiện qua năng suất, chất lượng công việc;

Căn cứ vào thời gian làm việc tại doanh nghiệp người có thời gian nhiều thì được hưởng nhiều hơn;

Chấp hành nội quy kỷ luật lao động của doanh nghiệp.

Quy chế thưởng phải tham khảo ý kiến của Công đoàn cơ sở hoặc tổ chức Công đoàn lâm thời nơi chưa có tổ chức Công đoàn chính thức.

6. Trả lương khi ngừng việc theo khoản 3 Điều 12 Nghị định 197/CP được thực hiện như sau:

Trong một ca làm việc, nếu ngừng việc từ 2 giờ trở lên thì ngừng việc vào giờ nào thì được trả đủ lương của giờ đó, nếu ngừng việc đến hết ca thì được trả đủ lương của ca đó, nếu làm việc hết tuần, hết tháng thì được trả đủ tiền lương theo lương tuần lương tháng của tuần, tháng đó, mức tiền lương để tính trả khi ngừng việc là tiền lương tháng trước liền kề và được tính tương ứng với các hình thức trả lương tương ứng với các hình thức trả lương thời gian quy định tại khoản 1, Điều 5 Nghị định số 197/CP.

IV. Tổ chức thực hiện:

1. Căn cứ vào Thông tư hướng dẫn này, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp trong khu chế xuất, khu công nghiệp, các cơ quan tổ chức nước ngoài tại Việt Nam sớm ban hành hệ thống thang lương, mức lương và đăng ký với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và báo cáo với Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và dầu tư.

2. Hàng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm báo cáo với cơ quan lao động và cơ quan tài chính địa phương về thu nhập thực tế, bao gồm: tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập khác (nếu có) theo số lượng của người lao động tại doanh nghiệp.

3. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố phối hợp với Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố; Sở kinh tế đối ngoại; Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp và cơ quan được Nhà nước uỷ quyền kiểm tra thực hiện Thông tư này.

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-1995. Bãi bỏ tất cả quy định trước đây trái với quy định tại Thông tư này.

Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nghiên cứu, giải quyết.