Điều 3. Sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi
1. Sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi cho ngân sách trung ương tạm ứng, vay
Việc sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi cho ngân sách trung ương tạm ứng, vay được thực hiện theo hình thức hợp đồng ký kết giữa Kho bạc Nhà nước và Vụ Ngân sách nhà nước.
2. Sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi cho ngân sách cấp tỉnh tạm ứng, vay
a) Khi có nhu cầu tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi Bộ Tài chính (Kho bạc Nhà nước) văn bản đề nghị tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước (theo mẫu tại Phụ lục I và Phụ lục II ban hành kèm theo Thông tư này), kèm theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê duyệt việc đề nghị tạm ứng ngân quỹ nhà nước (trường hợp đề nghị tạm ứng ngân quỹ nhà nước) hoặc dự toán vay đã được Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định năm phát sinh khoản vay ngân quỹ nhà nước (trường hợp đề nghị vay ngân quỹ nhà nước).
b) Trường hợp Bộ Tài chính chấp thuận cho ngân sách cấp tỉnh tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước, căn cứ văn bản của Bộ Tài chính, Sở Tài chính lập 02 bản Giấy rút vốn tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước theo mẫu tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này gửi Kho bạc Nhà nước khu vực để rút vốn tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước.
Trường hợp không chấp thuận cho ngân sách cấp tỉnh tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước, Bộ Tài chính có văn bản trả lời Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong đó nêu rõ lý do).
c) Căn cứ thời hạn hoàn trả khoản tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước, Sở Tài chính bố trí nguồn và làm thủ tục hoàn trà khoản tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước đầy đủ, đúng hạn. Trường hợp khoản tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước của ngân sách cấp tỉnh không được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn, chậm nhất sau 10 ngày làm việc kể từ ngày đến hạn, Kho bạc Nhà nước khu vực trích tồn quỹ ngân sách cấp tỉnh để thu hồi khoản tạm ứng, vay ngân quỹ nhà nước quá hạn; đồng thời, có văn bản thông báo Sở Tài chính và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc trích tồn quỹ ngân sách cấp tỉnh.
3. Sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để mua bán lại trái phiếu Chính phủ
a) Đối tác giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ gồm các ngân hàng thương mại là thành viên giao dịch công cụ nợ theo quy định tại Thông tư số 30/2019/TT-BTC ngày 28 tháng 5 năm 2019 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch và thanh toán giao dịch công cụ nợ của Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do ngân hàng chính sách phát hành và trái phiếu chính quyền địa phương, được công bố trên Trang thông tin điện tử của Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (trừ các ngân hàng thương mại đã được chuyển giao bắt buộc hoặc đang được kiểm soát đặc biệt).
b) Tỷ lệ phòng vệ rủi ro trong giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ được xác định theo mức quy định tại khoản 3 Điều 20 Thông tư số 111/2018/TT-BTC ngày 15 tháng 11 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn phát hành và thanh toán công cụ nợ của Chính phủ tại thị trường trong nước.
c) Giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ được thực hiện theo nguyên tắc cạnh tranh lãi suất, cụ thể:
Lãi suất mua bán lại trái phiếu Chính phủ áp dụng cho mỗi ngân hàng thương mại là lãi suất chào của ngân hàng thương mại đó, được xét chọn theo thứ tự từ cao xuống thấp, đảm bảo khối lượng mua bán lại tính lũy kế đến mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất không vượt quá khối lượng Kho bạc Nhà nước thông báo.
Khối lượng mua bán lại trái phiếu Chính phủ đối với mỗi ngân hàng thương mại là khối lượng chào của ngân hàng thương mại đó. Trường hợp khối lượng chào tính lũy kế đến mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất vượt quá khối lượng Kho bạc Nhà nước thông báo, thì sau khi đã trừ đi khối lượng chào ở các mức lãi suất cao hơn, phần còn lại được phân bổ cho các ngân hàng thương mại chào tại mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất theo tỷ lệ tương ứng với khối lượng chào và được làm tròn xuống hàng tỷ đồng; phần dư còn lại sau khi làm tròn được phân bổ cho ngân hàng thương mại đầu tiên chào tại mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất; trường hợp phân bổ phần dư vượt quá khối lượng chào còn lại của ngân hàng thương mại này, thì phần vượt quá được phân bổ lần lượt cho ngân hàng thương mại kế tiếp.
d) Giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ được thực hiện trên hệ thống giao dịch công cụ nợ của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (cấu phần mua bán lại trái phiếu Chính phủ từ nguồn ngân quỹ nhà nước) đảm bảo các yêu cầu chi tiết theo Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông tư này. Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm công khai danh sách đối tác giao dịch, lịch biểu và kết quả thực hiện giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ; quyết định và thông báo cho các đối tác giao dịch về kỳ hạn và khối lượng trái phiếu Chính phủ mua bán lại của từng đợt giao dịch.
d) Ngoài các nội dung quy định tại điểm a, b, c và d khoản này, giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính phủ được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 30/2019/TT-BTC.
4. Sử dụng ngân quỹ nhà nước tạm thời nhàn rỗi để gửi có kỳ hạn tại ngân hàng thương mại
a) Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm công khai lịch biểu, thời gian, phương thức thực hiện giao dịch, các yêu cầu đối với bản chào nhận tiền gửi có kỳ hạn; quyết định và thông báo cho các ngân hàng thương mại về thời hạn gửi và số tiền gửi tương ứng của từng đợt giao dịch.
b) Việc gửi có kỳ hạn ngân quỹ nhà nước tại ngân hàng thương mại được thực hiện theo nguyên tắc cạnh tranh lãi suất, cụ thể:
Lãi suất gửi áp dụng cho mỗi ngân hàng thương mại là lãi suất chào của ngân hàng thương mại đó, được xét chọn theo thứ tự từ cao xuống thấp, đảm bảo số tiền gửi tính lũy kế đến mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất không vượt quá số tiền Kho bạc Nhà nước chào gửi.
Số tiền gửi tại mỗi ngân hàng thương mại tương đương với số chào nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại đó. Trường hợp số chào nhận tiền gửi tính lũy kế đến mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất vượt quá số tiền Kho bạc Nhà nước chào gửi, thì sau khi đã trừ đi số chào nhận tiền gửi ở các mức lãi suất cao hơn, phần dư còn lại của số tiền Kho bạc Nhà nước chào gửi được phân bổ cho ngân hàng thương mại đầu tiên gửi bản chào tại mức lãi suất được lựa chọn thấp nhất; trường hợp phân bổ phần dư vượt quá số chào nhận tiền gửi của ngân hàng thương mại này, thì phần vượt được phân bổ lần lượt cho ngân hàng thương mại có thời gian gửi bản chào nhận tiền gửi kế tiếp.