Điều 23. Điều khoản thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 6 năm 2026.
2. Tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được thành lập theo quy định tại Điều 31 của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 nhưng đến ngày 01 tháng 3 năm 2026 (ngày Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực thi hành) mà chưa giải quyết xong vụ việc phá sản thì tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của tổ Thẩm phán giải quyết đơn yêu cầu áp dụng thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng để tiếp tục giải quyết.
3. Tổ Thẩm phán giải quyết đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản được thành lập theo quy định tại Điều 44 của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 nhưng đến ngày 01 tháng 3 năm 2026 (ngày Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực thi hành) mà chưa giải quyết xong đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản thì áp dụng quy định của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng để tiếp tục giải quyết.
4. Tổ Thẩm phán giải quyết đơn đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản được thành lập theo quy định tại Điều 112 của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 nhưng đến ngày 01 tháng 3 năm 2026 (ngày Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực thi hành) mà chưa giải quyết xong thì áp dụng quy định của Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 85/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng để tiếp tục giải quyết.
5. Vụ việc phục hồi, phá sản đã thụ lý từ ngày 01 tháng 3 năm 2026 (ngày Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 có hiệu lực thi hành) nhưng đến ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành chưa giải quyết xong thì áp dụng Thông tư này để tiếp tục giải quyết.
6. Các trình tự, thủ tục đã thực hiện, các văn bản đã ban hành theo đúng quy định của pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì không căn cứ vào Thông tư này để thực hiện lại hoặc sửa đổi, bổ sung, thay thế.
7. Không áp dụng quy định tại Thông tư này làm căn cứ đề nghị xem xét lại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định của Tòa án về giải quyết vụ việc phục hồi, phá sản đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành.
8. Trong quá trình triển khai thi hành Thông tư, nếu có vướng mắc cần được hướng dẫn, quy định bổ sung thì đề nghị phản ánh về Tòa án nhân dân tối cao để hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung kịp thời./.