vanban.org

Điều 5. Kiểm soát thủ tục hành chính trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật — Thông tư 08/2016/TT-BCT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 03/09/2018 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 03/09/2018 Thay thế: 19/2018/TT-BCT · 19/07/2018
Bộ Công Thương Ban hành 29/06/2016 Hiệu lực 01/07/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời thông tư · 6 phiên bản · 13 năm
Thông tư số 19/2018/TT-BCT Quy định về việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công Thương · 19/2018/TT-BCT
Thông tư số 08/2016/TT-BCT Quy định về việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công Thương · 08/2016/TT-BCT
03/09/201819/2018/TT-BCTThay thế Đang xem 01/07/2016Bản gốcThay thế
Thông tư số 13/2013/TT-BCT Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2011/TT-BCT ngày 31 tháng 5 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Công thương quy định về việc xây dựng, thẩm định và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Công thương · 13/2013/TT-BCT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 08/2016/TT-BCT › Chương I › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Kiểm soát thủ tục hành chính trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật

1. Trong quá trình lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đơn vị thuộc Bộ có trách nhiệm thực hiện bổ sung các hoạt động sau để làm cơ sở cho việc đề nghị xây dựng văn bản có chứa thủ tục hành chính:

a) Đối với đề nghị xây dựng văn bản dự kiến phát sinh thủ tục hành chính mới: nghiên cứu rõ số lượng, hình thức và dự kiến triển khai thực hiện từng thủ tục hành chính, dự kiến số lượng đối tượng bị tác động bởi thủ tục hành chính sẽ được quy định trong văn bản;

b) Đối với đề nghị xây dựng văn bản dự kiến sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính hiện hành: đánh giá hiệu quả thực tiễn của việc thực hiện các thủ tục hành chính hiện hành trong sự phù hợp với mục tiêu, yêu cầu, bối cảnh quản lý nhà nước tại thời điểm ban hành thủ tục và thời điểm sửa đổi, bổ sung;

c) Đối với đề nghị xây dựng văn bản không làm phát sinh thủ tục hành chính mới hoặc không sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính hiện hành thì không cần thực hiện quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này.   

2. Trong quá trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính, đơn vị chủ trì soạn thảo có trách nhiệm:

a) Đánh giá tác động của thủ tục hành chính theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và quy định về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Công Thương;

b) Lấy ý kiến cơ quan, đơn vị kiểm soát thủ tục hành chính theo quy định tại khoản 5 Điều 23 Thông tư này;

3. Vụ Pháp chế chủ trì, phối hợp với đơn vị chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến riêng đối với nội dung có quy định thủ tục hành chính dưới các hình thức phù hợp (tham vấn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, bằng văn bản…) trong các trường hợp sau:

a) Nội dung văn bản còn nhiều ý kiến khác nhau về sự cần thiết, hình thức của thủ tục hành chính, cách thức thực hiện quy định có liên quan đến mối quan hệ giữa trung ương và địa phương hoặc nhiều bộ, ngành;

b) Nội dung thủ tục hành chính có chi phí tuân thủ lớn nhưng xét thấy chưa được đánh giá một cách đầy đủ, thấu đáo.