vanban.org

Điều 9. Quy định về việc phạm nhân nhận, gửi thư và nhận đồ vật — Thông tư 07/2018/TT-BCA

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/03/2020 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/03/2020 Thay thế: 14/2020/TT-BCA · 10/02/2020
Bộ Công an Ban hành 12/02/2018 Hiệu lực 29/03/2018 Hết hiệu lực toàn bộ 1 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời thông tư · 6 phiên bản · 15 năm
Thông tư số 14/2020/TT-BCA Quy định chi tiết chế độ gặp, nhận quà và liên lạc của phạm nhân · 14/2020/TT-BCA
Thông tư số 07/2018/TT-BCA Quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, đồ vật và liên lạc điện thoại với thân nhân · 07/2018/TT-BCA
26/03/202014/2020/TT-BCAThay thế Đang xem 29/03/2018Bản gốcThay thế
Thông tư số 46/2011/TT-BCA Quy định việc phạm nhân gặp thân nhân; nhận, gửi thư; nhận tiền, quà và liên lạc điện thoại với thân nhân · 46/2011/TT-BCA
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Thông tư 07/2018/TT-BCA › Chương III › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Quy định về việc phạm nhân nhận, gửi thư và nhận đồ vật

1. Khi gặp những người được quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 4 của Thông tư này, phạm nhân được nhận thư, đồ vật theo quy định tại khoản 2, Điều 46 Luật Thi hành án hình sự nhưng tối đa không quá 5 (năm) kg đồ vật trong một lần gặp, ngoài ra, mỗi tháng phạm nhân được nhận đồ vật do thân nhân (những người được quy định tại khoản 1, Điều 4) đưa đến hoặc gửi qua đường Bưu điện 2 (hai) lần theo quy định tại khoản 3, Điều 46 Luật Thi hành án hình sự, mỗi lần không quá 3 (ba) kg (nếu gửi 01 lần thì không quá 06 kg). Trường hợp phạm nhân từ chối gặp người đến thăm thì cán bộ làm nhiệm vụ tổ chức thăm gặp lập biên bản và thông báo cho thân nhân phạm nhân biết. Trường hợp phạm nhân từ chối không nhận đồ vật gửi qua đường Bưu điện thì phải lập biên bản và thông báo cho người gửi đến nhận lại. Trong thời gian 15 ngày, kể từ ngày gửi thông báo, nếu không có người đến nhận thì lập biên bản tiến hành tiêu hủy trước sự chứng kiến của phạm nhân được nhận. Thư và đồ vật của phạm nhân phải được kiểm tra kỹ trước khi đưa vào cơ sở giam giữ, trường hợp phát hiện đồ vật cấm phải xử lý theo quy định.

2. Phạm nhân được gửi thư và điện tín theo quy định tại khoản 1, Điều 47 Luật Thi hành án hình sự.

3. Phạm nhân thường xuyên vi phạm Nội quy của cơ sở giam giữ bị giam riêng, phạm nhân đang bị thi hành kỷ luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể hạn chế việc nhận, gửi thư và nhận đồ vật trong một thời gian nhưng không quá 3 (ba) tháng. Cơ sở giam giữ có trách nhiệm thông báo việc hạn chế nhận, gửi thư và nhận đồ vật cho thân nhân phạm nhân biết để thực hiện.

4. Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm hướng dẫn phạm nhân thông báo cho thân nhân biết địa chỉ nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù (tổ, đội, phân trại) và những đồ vật thuộc danh mục cấm để thân nhân gửi thư, đồ vật.

5. Căn cứ điều kiện cụ thể, các cơ sở giam giữ tổ chức hoạt động căng tin để bán lương thực, thực phẩm và hàng hóa thiết yếu cho phạm nhân. Giá bán lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa phải được Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện duyệt, sau khi trừ chi phí hợp lý, không được cao hơn giá bán lẻ tại địa phương. Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp quy định cụ thể việc tổ chức hoạt động căng tin trong cơ sở giam giữ.