Điều 5. Thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vụ án hình sự
1. Vụ Công tố và Kiểm sát xét xử hình sự Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ 7) tham mưu giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thẩm quyền sau:
a) Giải quyết đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh; giải quyết đơn đề nghị xem xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực khi xét thấy cần thiết;
b) Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; thực hành quyền công tố, kiểm sát việc xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trường hợp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân khu vực thì phân công Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
2. Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Viện Phúc thẩm) tham mưu giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện thẩm quyền sau:
a) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ;
b) Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao;
c) Phát hiện vi phạm pháp luật và thông báo cho Vụ 7 để báo cáo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.