vanban.org

Điều 23 — Sắc luật 004/SLT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 23/01/1961 Thay thế: 1/LCT · 18/01/1961
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Ban hành 20/07/1957 Hiệu lực 14/09/1957 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Sắc luật 004/SLT › Chương I › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23

Hội đồng bầu cử: Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu cử Hội đồng nhân dân một cấp, Uỷ ban Hành chính cấp ấy sẽ thành lập một Hội đồng bầu cử cho toàn địa phương mình gồm từ bảy đến hai mươi mốt đại biểu các giới và các đoàn thể nhân dân trong địa phương, tất cả các đại biểu ấy đều phải là người không ra ứng cử và phải biết đọc, biết viết. Hội đồng tự bầu ra một chủ tịch, một phó chủ tịch và một hay nhiều thư ký.

Hội đồng bầu cử cấp khu, tỉnh, thành phố do Bộ Nội vụ công nhận. Hội đồng bầu cử các cấp khác do do Uỷ ban hành chính trên một cấp công nhận.

Nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng bầu cử như sau:

1) Kiểm tra và đôn đốc việc thi hành luật lệ bầu cử ở địa phương;

2) Xét và giải quyết những khiếu nại về ứng cử;

3) Tiếp nhận những thẻ cử tri và phiếu bầu cử của Uỷ ban Hành chính cấp tương đương để phân phố cho các Ban bầu cử thành lập theo điều 24 dưới đây chậm nhất là mười ngày trước ngày bầu cử;

4) Kiểm soát công việc bầu cử trong lúc tiến hành bầu cử ở các phòng bỏ phiếu;

5) Tiếp nhận và kiểm soát biên bản sơ kết cuộc bầu cử do các Ban bầu cử tại các đơn vị bầu cử gửi đến, làm biên bản ghi kết quả cuộc bầu cử trong toàn địa phương;

6) Tuyên bố và niêm yết kết quả tạm thời của cuộc bầu cử;

7) Sau khi bầu cử nếu có đơn khiếu nại thì do Hội đồng bầu cử tiếp nhận, xét và đề ý kiến để cấp có thẩm quyền quyết định;

8) Chậm nhất là mười lăm ngày sau ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử phải gửi đến cấp có thẩm quyền một biên bản kèm các giấy tờ ghi các nhận xét về cuộc bầu cử hoặc góp kinh nghiệm cho các cuộc bầu cử sau.

Hội đồng bầu cử không được vận động cử cho một danh sách hay là một cá nhân nào.