Điều 84: Công chức phải thôi việc hay về hưu vì thiếu sức khoẻ được hưởng một khoản trợ cấp tính theo số năm làm việc, mỗi năm được một tháng lương và phụ cấp gia đình, số ngày tháng lẻ tính bằng một năm chẵn. Số tiền trợ cấp không được quá sáu tháng lương kể cả phụ cấp gia đình. — Sắc lệnh 76/SL
Đang đối chiếu hiệu lực…
So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 30/04/1975
Bạn đang xem một phần của
Sắc lệnh 76/SL › Mục III › Điều 84
Đọc toàn văn
Mục lục
Điều 1
Điều 2. Bộ Nội vụ phụ trách theo dõi sự áp dụng quy chế công chức.
Điều 3. Những khoản chưa thi hành được vì tình thế kháng chiến sẽ thay bằng những thể lệ tạm thời, ấn định sau.
Điều 4. Các Bộ trưởng chiểu sắc lệnh thi hành.
Điều 1
Điều 2
Điều 3. Công chức có quyền:
Điều 4. Nếu không có gì trở ngại cho công việc, hai vợ chồng cùng là công chức được cùng làm việc một nơi.
Điều 5. Hệ thống tổ chức, điều kiện tuyển bổ và nhiệm vụ nhân viên của Thủ tướng Phủ và mỗi Bộ sẽ do quy tắc các ngạch công chức ấn định.
Điều 6. Các ngạch công chức đều theo một thang lương chung gồm 30 bậc.
Điều 7. Quản trị: Công chức thuộc Bộ nào do Bộ trưởng Bộ ấy quản trị.
Điều 8. Cấp quản trị công chức có quyền:
Điều 9. Các Bộ trưởng có thể uỷ cho Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Kỳ hay Liên khu, quyền quản trị những công chức làm việc trong các cơ quan thuộc phạm vi Kỳ hay Liên khu.
Điều 10. Sử dụng: Tuỳ nhu cầu công việc, Bộ trưởng sẽ giao quyền sử dụng một số công chức do Bộ quản trị cho Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Kỳ hay Liên khu, hay Giám đốc Nha.
Điều 11. Các Bộ cũng có thể phái một số công chức thuộc Bộ mình sang giúp việc Bộ khác, trong một thời gian.
Điều 12. Cấp sử dụng công chức có quyền:
Điều 13. Hồ sơ lý lịch công chức: Mỗi Bộ giữ danh sách và hồ sơ lý lịch công chức thuộc quyền.
Điều 14. Việc tuyển bổ công chức chỉ căn cứ vào năng lực (thành tích, kinh nghiệm, trình độ văn hoá) xét theo ba cách sau này:
Điều 15. Ngoài điều kiện năng lực, do quy tắc ấn định, những người muốn được tuyển vào một ngạch công chức phải đủ những điều kiện dưới đây:
Điều 16. Đồng bào thiểu số, cựu binh thương binh, quân nhân có chiến công sẽ được ưu đãi trong việc tuyển dụng. Quyền lợi đặc biệt này sẽ quy định riêng.
Điều 17. Tuyển bổ sau kỳ thi: Tuỳ nhu cầu công việc, cấp quản trị công chức sẽ mở những kỳ thi tuyển dụng nhân viên.
Điều 18. Những người trúng tuyển sẽ được bổ dụng theo thứ tự trên dưới.
Điều 19. Tuyển bổ theo học bạ hay văn bằng: Việc tuyển bổ theo học bạ hay văn bằng sẽ do quy tắc các ngạch ấn định.
Điều 20. Tuyển bổ theo đề nghị của Hội động tuyển trạch: Những người có thành tích, kinh nghiệm có thể được bổ vào một ngạch trật thích đáng, theo đề nghị của một Hội đồng tuyển trạch.
Điều 21. Trước khi đưa ra Hội đồng tuyển trạch, cơ quan quản trị có thể tuyển tạm công chức để xét năng lực trong một thời hạn không quá sáu tháng.
Điều 22. Công chức tuyển theo hợp đồng.
Điều 23. Trong hạn 15 ngày, sau khi tiếp được lệnh, công chức phải đi nhận việc, trừ khi có lý do chính đáng.
Điều 24. Công chức mới được bổ vào một ngạch, bất cứ ở trật nào, đều phải qua một thời kỳ tập sự, trừ những người được thăng bổ lên ngạch trên theo điều 34 dưới đây.
Điều 25. Đối với những công chức tuyển tạm sau được vào ngạch, thời gian làm việc tạm có thể tính vào hạn tập sự, nếu công chức vẫn phụ trách công việc của ngành đó.
Điều 26. Công chức hết hạn tập sự sẽ được thực thụ, gia hạn tập sự hay bị bãi chức.
Điều 27. Quy tắc có thể bắt buộc công chức tập sự qua một kỳ thi thực thụ. Nếu không trúng tuyển sẽ phải ra hạn tập sự hay bãi chức.
Điều 28. Công chức tập sự có thể bị bãi chức bất cứ lúc nào vì hạnh kiểm xấu, bất lực, lỗi về kỷ luật hay về hình luật.
Điều 29. Việc cho thực thụ, gia hạn, tập sự, bãi chức sẽ do cấp quản trị quyết định theo đề nghị của một Hội đồng gồm có:
Điều 30. Công chức được thực thụ sẽ xếp lên trật liền trên và được hưởng lương theo trật mới kể từ ngày hết hạn tập sự.
Điều 31. Công chức bị bãi chức hay phải thôi việc vì thiếu sức khoẻ được hoàn lại số hưu liễm đã góp vào quỹ hưu bổng.
Điều 32. Thi chuyển ngạch.
Điều 33. Công chức trúng tuyển kỳ thi chuyển ngạch sẽ được bổ vào trật bắt đầu của ngạch mới.
Điều 34. Thăng bổ lên ngạch trên.
Điều 35. Xếp xuống ngạch dưới.
Điều 36. Công chức xếp xuống ngạch dưới sẽ được đặt vào trật ngạch với bậc lương trong ngạch cũ hoặc vào trật cao nhất của ngạch mới, nếu bậc lương cũ cao hơn trật này.
Điều 37. Công chức phái sang làm việc tại Bộ khác được ít nhất là một năm có thể xin đổi sang ngạch tương đương thuộc Bộ này và được giữ nguyên bậc lương cũ cùng thâm niên.
Điều 38. Công chức được cử vào Chính phủ, Ban thường trực Quốc hội hay làm Uỷ viên trong Uỷ ban kháng chiến hành chính từ cấp huyện trở lên, được coi như để ra ngoại ngạch trong thời kỳ giữ những chức vụ ấy.
Điều 39. Công chức tận tuỵ với chức vụ hay có công trạng có thể được khen thưởng bằng:
Điều 40
Điều 41. Việc cấp bằng khen sẽ do cấp điều khiển trực tiếp đề nghị lên những cấp sau đây xét định, tuỳ cơ quan công chức làm việc và tuỳ sự quan trọng của việc khen thưởng:
Điều 42. Huân chương sẽ cấp theo thể lệ hiện hành hàng năm vào hai kỳ nhất định: lễ Lao động (1 tháng 5) và lễ Quốc khánh (2 tháng 9).
Điều 43. Một bản sao thư khen, nghị định cấp bằng khen hoặc thưởng huân chương sẽ để vào hồ sơ lý lịch công chức.
Điều 44. Việc thăng thưởng cho công chức chỉ căn cứ vào tinh thần phục vụ và theo cách lựa chọn.
Điều 45. Theo thường lệ, công chức ở một trật nào trong một ngạch chỉ có thể được thăng lên trật liền trên trong ngạch ấy.
Điều 46. Hàng năm, Chính phủ ấn định chung cho các Bộ tỷ lệ công chức có thể được thăng đối với số công chức đủ điều kiện dự kỳ thăng thưởng.
Điều 47. Việc thăng thưởng cho công chức sẽ xét mỗi năm một kỳ, vào tháng 12 dương lịch. Được dự thăng những công chức sự hai năm thâm niên trong trật của mình tính đến ngày 31 tháng 12 dương lịch.
Điều 48. Thời gian làm việc ở vùng khí hậu xấu được tính một thành một rưỡi, về phương diện thâm niên để thăng trật.
Điều 49. Hàng năm, cơ quan quản trị công chức phải lập cho mỗi ngạch một bảng danh sách những công chức đủ niên hạn tối thiểu hai năm, theo thứ tự thâm niên, để giao cho Hội đồng thăng thưởng xét.
Điều 50. Hội đồng thăng thưởng.
Điều 51. Hội đồng thăng thưởng xét phiếu điểm và hồ sơ các công chức đủ hạn thâm niên, rồi lập bảng thăng thưởng theo thứ tự hơn kém.
Điều 52. Cấp quản trị sẽ căn cứ vào bảng nói trên mà xét cho thăng.
Điều 53. Thăng thưởng ngoại lệ.
Điều 54. Việc thăng thưởng ngoại lệ sẽ do cấp quản trị công chức quyết định sau khi thoả thuận vớ Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính.
Điều 55. Công chức chịu trách nhiệm trước cấp trên về cách thừa hành chức vụ của mình.
Điều 56. Tuỳ lỗi nhẹ hay nặng, công chức phạm lỗi sẽ phải chịu một trong những hình phạt sau này:
Điều 57. Cấp điều khiển trực tiếp có quyền cảnh cáo một công chức thuộc quyền, nhưng phải trình ngày lên cấp trên biết.
Điều 58. Việc khiển trách do cấp sử dụng công chức quyết định.
Điều 59. Việc hoãn dự thăng thưởng, xoá tên trong bảng thăng thưởng, giáng trật, từ chức bắt buộc, cách chức, do cấp quản trị quyết định, theo đề nghị của Hội đồng kỷ luật.
Điều 60. Trong trường hợp đặc biệt, công chức phạm lỗi có thể bị huyền chức trước khi đưa ra Hội đồng kỷ luật.
Điều 61. Nếu không bị cách chức, công chức sẽ được truy lĩnh số lương trong thời kỳ bị huyền chức.
Điều 62. Hội đồng kỷ luật.
Điều 63. Hội đồng xét hồ sơ, chất vấn bị cáo, hỏi các chứng tá nếu cần; sau đó thảo luận và biểu quyết, rồi tuyên bố cho bị cáo biết. Biên bản của Hội đồng sẽ chuyển lên cấp quản trị để quyết định.
Điều 64. Những giấy tờ về việc trừng phạt sẽ xếp vào hồ sơ công chức phạm lỗi.
Điều 65. Công chức bị giáng sẽ xếp vào trật dưới kể từ ngày ký quyết định.
Điều 66. Công chức phạm pháp sẽ bị truy tố trước toà án theo luật lệ chung. Tuy nhiên đối với công chức một ngạch có chức vụ đặc biệt, quy tắc có thể ấn định hình thức riêng về việc bắt giam.
Điều 67. Công chức phạm pháp có thể bị huyền chức.
Điều 68. Công chức phạm pháp bị giam cứu được hưởng, trong thời gian này, một phần tư tiền lương và phụ cấp gia đình.
Điều 69. Sau khi Toà án xét xử, dù được tha bổng, công chức vẫn có thể bị trừng phạt về phương diện hành chính.
Điều 70. Công chức bị Toà án phạt tiền hay phạt tù nhưng không mất quyền công dân sẽ phải đưa ra Hội đồng kỷ luật.
Điều 71. Công chức phải phạt ngồi tù mà không bị cách chức, thì thời gian bị phạt tù định trong án, không được tính về phương diện lương và thâm niên.
Điều 72. Công chức tự tiện bỏ việc không có lý do chính đáng sẽ bị trừng phạt theo Mục I chương kỷ luật.
Điều 73. Mỗi năm, công chức được nghỉ mười lăm (15) ngày, lĩnh cả lương và các khoản phụ cấp.
Điều 74. Công chức nào trong ba năm liên tiếp không hưởng lễ nghỉ hàng năm sẽ được nghỉ bốn mươi nhăm (45) ngày liền, lĩnh cả lương và các khoản phụ cấp.
Điều 75. Một thông tư Bộ Nội vụ sẽ ấn định chi tiết việc cho công chức nghỉ phép.
Điều 76
Điều 77
Điều 78. Công chức ra khỏi ngạch trong những trường hợp sau này:
Điều 79. Từ chức.
Điều 80. Công chức phạm lỗi, đương bị cấp điều khiển đề nghị trừng phạt hay bị truy tố trước toà án, không được xin từ chức trước khi cấp quản trị hay toà án quyết định.
Điều 81. Công chức không được từ chức ở một cơ quan để sang làm việc ở cơ quan khác, nếu không có lý do chính đáng.
Điều 82. Công chức từ chức được rút tiền hưu liễm đã góp vào quỹ hưu bổng, nếu chưa đủ niên hạn hưởng hưu bổng.
Điều 83. Thôi việc vì thiếu sức khoẻ.
Điều 84
Điều 85. Thôi việc vì thiếu năng lực.
Điều 86. Từ chức bắt buộc.
Điều 87. Cách chức.
Điều 88. Công chức chết hay mất tích.
Điều 89. Công chức bị tai nạn.
Điều 90. Tuỳ thương tật nhẹ hay nặng, công chức được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính bằng từ ba đến mười hai tháng lương, kể cả phụ cấp gia đinh.
Điều 91. Nếu công chức chết vì tai nạn, vợ, chồng hoặc các con sẽ được lĩnh khoản trợ cấp nói ở điều trên.
Điều 92. Hưu trí.
Không có điều nào khớp từ khoá.
Ghi chú của bạn
Ghi chú riêng của bạn cho: văn bản này
Ghi chú đã lưu
Cỡ chữ
Font chữ
Giãn dòng
Độ rộng
Nền giấy