Điều 3. Từ năm 1990 trở đi không xuất khẩu gỗ tròn. Trong trường hợp xét thấy việc xuất khẩu gỗ tròn (gồm gỗ quý hiếm và gỗ có công dụng đặc biệt) được giá cao hơn so với xuất khẩu gỗ tròn cùng loại đã qua chế biến và điều kiện tài nguyên rừng có thể đáp ứng thì được xuất khẩu gỗ tròn với số lượng hạn chế.
Hàng năm, Bộ Lâm nghiệp phối hợp với uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, xét duyệt kế hoạch xuất khẩu loại gỗ tròn đặc biệt nói trên của toàn ngành. Trên cơ sở kế hoạch được duyệt, Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp xét cấp giấy phép khai thác các loại gỗ quý, hiếm (có danh mục kèm theo) và kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hiện quy trình khai thác. Giấy phép này là căn cứ để Bộ Kinh tế đối ngoại cấp giấy phép xuất khẩu.
Bộ Kinh tế đối ngoại phối hợp với Bộ Lâm nghiệp, uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, xem xét cho xuất hết số gỗ tròn đã ký xuất năm 1988 và điều chỉnh kịp thời kế hoạch và hạn ngạch xuất khẩu đã cấp năm 1989 để kết thúc xuất khẩu gỗ tròn vào cuối năm nay.
Việc tái xuất gỗ nhập khẩu từ các nguồn ngoài nước không thuộc Quyết định này.