Điều 8. Xử lý vi phạm
1. Sở Nông nghiệp và Môi trường:
a) Chỉ đạo Phòng Pháp chế Sở, Chi cục Thủy lợi phối hợp với các lực lượng chức năng của tỉnh, tổ chức kiểm tra đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc ngành trong thực hiện các quy định của pháp luật về đê điều.
b) Đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường xem xét, xử lý dứt điểm các hành vi vi phạm pháp luật về đê điều khi nhận được báo cáo, đề nghị của Chi cục Thủy lợi, của Phòng Pháp chế Sở Nông nghiệp và Môi trường.
c) Chủ trì, phối hợp với các lực lượng chức năng của tỉnh đôn đốc Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường xử lý vi phạm pháp luật về đê điều thuộc thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật.
d) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan của tỉnh thực hiện chức năng kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đê điều và xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
đ) Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành đơn vị chức năng có liên quan tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện xử phạt các hành vi vi phạm hành chính về đê điều quy định tại khoản 9 Điều 27 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ.
2. Uỷ ban nhân dân các xã, phường:
a) Khi nhận được hồ sơ vi phạm do Hạt Quản lý Đê điều Biển Đông, Hạt Quản lý Đê điều Biển Tây chuyển đến phải tiến hành các trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo đúng quy định của pháp luật. Thực hiện thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp đã được quy định tại khoản 13 Điều 5 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 15 Luật trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
b) Sau khi nhận được biên bản vi phạm hành chính và hồ sơ, tài liệu liên quan do người có thẩm quyền lập biên bản chuyển đến thì chậm nhất trong thời hạn 07 ngày làm việc (quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi xảy ra vi phạm thuộc địa bàn quản lý phải tiến hành xử phạt đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 38, khoản 3 Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 và Điều 38 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ.
c) Xử phạt các hành vi vi phạm hành chính về đê điều đúng theo thẩm quyền đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7 và 8 Điều 27, Điều 29, Điều 32, Điều 33, Điều 34 (phạt đến 50 triệu đồng) Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ; trường hợp vượt quá thẩm quyền (mức phạt trên 50 triệu đồng), tập hợp hồ sơ vi phạm, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử phạt theo quy định của pháp luật.
d) Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, trước pháp luật nếu không xử lý kịp thời các hành vi lấn chiếm phạm vi bảo vệ đê điều trên địa bàn quản lý.
đ) Trường hợp phức tạp, tổ chức họp liên ngành để phối hợp xử lý.
3. Sở Xây dựng:
Phối hợp với các đơn vị chức năng có liên quan tiến hành kiểm tra, xử lý các công trình vi phạm về trật tự xây dựng nằm trong hành lang bảo vệ đê điều.
4. Công an tỉnh:
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và theo quy định tại Điều 41 và khoản 4 Điều 47 Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ, phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường, có trách nhiệm chỉ đạo các đơn vi chức năng, Công an xã, phường, phối hợp chặt chẽ với địa phương, đơn vị quản lý đê điều tổ chức thực hiện phương án bảo đảm trật tự, an ninh tại các khu vực đê xung yếu; phối hợp kiểm tra, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về đê điều (đặc biệt là các công trình gây mất an toàn giao thông trên tuyến đê); tham gia lập biên bản vi phạm hành chính theo đúng thẩm quyền. Trường hợp thuộc thẩm quyền thì tiến hành xử phạt; trường hợp vượt quá thẩm quyền thì tiến hành chuyển biên bản, hồ sơ vi phạm đến người có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
5. Thanh tra tỉnh:
a) Phối hợp thanh tra các vụ việc vi phạm hành lang bảo vệ đê, xây dựng trái phép trên đê gây ảnh hưởng đến an toàn đê; Tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến việc lấn chiếm đê điều.
b) Đôn đốc việc thực hiện các kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm về đê.
6. Các cơ quan, đơn vị:
a) Phòng Pháp chế Sở Nông nghiệp và Môi trường:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức kiểm tra, rà soát việc chấp hành các quy định của pháp luật về đê điều đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh theo kế hoạch kiểm tra hằng năm hoặc đột xuất được Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường phê duyệt.
Theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc Sở trong việc thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực đê điều; kịp thời phát hiện, tham mưu, báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý các khó khăn, vướng mắc phát sinh.
Phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan xử lý đối với phương tiện lưu thông trên đê, cầu trên đê vượt quá tải trọng cho phép; trình tự, thủ tục pháp lý trong việc ngăn chặn và xử lý vi phạm theo quy định.
b) Chi cục Thủy lợi:
Kiểm tra, xác minh, phân loại các trường hợp vi phạm pháp luật về đê điều, chỉ đạo lập hồ sơ, văn bản kiến nghị Ủy ban nhân dân các xã, phường xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Định kỳ hàng tháng, quý, năm tổng hợp về tình hình vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật về đê điều trên địa bàn tỉnh, báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh, Cục Quản lý Đê điều, Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định.
Giải quyết kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo về lĩnh vực đê điều theo thẩm quyền. Phối hợp với Phòng Pháp chế Sở Nông nghiệp và Môi trường thực hiện kiểm tra, rà soát các vụ việc vi phạm pháp luật về đê điều nghiêm trọng còn tồn đọng theo chỉ đạo của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường.
Xử phạt các hành vi vi phạm hành chính về đê điều theo quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 6 Điều 27, Điều 28, Điều 30, Điều 31, Điều 35 (phạt đến 50 triệu đồng) Nghị định số 03/2022/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ; trường hợp vượt quá thẩm quyền (mức phạt trên 50 triệu đồng), tập hợp hồ sơ vi phạm, báo cáo Sở Nông nghiệp và Môi trường đề xuất Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử phạt theo quy định của pháp luật.
c) Chi cục Kiểm lâm:
Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường và các đơn vị có liên quan trong việc: Thiết lập hồ sơ vi phạm; xác định cụ thể về điều khoản vi phạm; mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả; thời gian khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật về đê điều đối với các hộ nhận khoán (xử lý theo Luật Lâm nghiệp).
d) Ban Quản lý rừng đặc dụng - Phòng hộ Bạc Liêu:
Chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan rà soát, kiểm tra, đối chiếu quy định pháp luật, thực hiện thanh lý Hợp đồng hoặc chấm dứt Hợp đồng đối với các hộ dân nhận khoán đất rừng phòng hộ theo nội dung đã ký hợp đồng đến nay đã hết thời hạn (đối với các trường hợp không đủ điều kiện để tiếp tục thực hiện Hợp đồng).
đ) Hạt Quản lý Đê điều Biển Đông, Hạt Quản lý Đê điều Biển Tây:
Phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường trong việc: Thiết lập hồ sơ vi phạm; xác định cụ thể về điều khoản vi phạm; mức xử phạt; biện pháp khắc phục hậu quả; thời gian khắc phục hậu quả; thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật về đê điều.
Đôn đốc việc xử lý hành vi vi phạm pháp luật về đê điều của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường; trường hợp hành vi vi phạm không được Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường xử lý hoặc xử lý không nghiêm, không dứt điểm theo đúng quy định của pháp luật, Hạt trưởng Hạt Quản lý Đê điều Biển Đông và Hạt Quản lý Đê điều Biển Tây có văn bản báo cáo Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tham mưu Sở Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xử lý theo quy định của pháp luật.
Tổng hợp, báo cáo tình hình vi phạm pháp luật về đê điều xảy ra trên địa bàn tỉnh về Chi cục Thủy lợi, Ủy ban nhân dân các xã, phường định kỳ hằng tháng, quý, năm và đột xuất khi có yêu cầu. Hằng năm, chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường rà soát, phân loại, thống nhất số liệu vi phạm, kiến nghị xử lý cụ thể đối với từng trường hợp vi phạm pháp luật về đê điều còn tồn đọng trên địa bàn quản lý.