vanban.org

Điều 9. Khoản tiền lãi chuyển về Kho bạc Nhà nước Trung ương để trích lập quỹ dự phòng rủi ro (thu được từ nguồn Quỹ hỗ trợ việc làm Trung ương) được sử dụng và quyết toán như sau: — Quyết định 97/2001/QĐ-BTC

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/02/2008 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/04/2005 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 15/2008/QĐ-TTg · 23/01/2008
Bộ Tài chính Ban hành 02/10/2001 Hiệu lực 01/10/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 28 năm
Quyết định số 97/2001/QĐ-BTC Về việc ban hành Quy chế phân phối và sử dụng tiền lãi cho vay từ Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm. · 97/2001/QĐ-BTC
25/04/200571/2005/QĐ-TTgBãi bỏ Đang xem 01/10/2001Bản gốcThay thế
Quyết định số 811/1998/QĐ-TC-HCSN Về việc bổ sung đối tượng hưởng kinh phí 5% thu hồi nợ quá hạn khó đòi vốn vay quỹ quốc gia giải quyết việc làm · 811/1998/QĐ-TC-HCSN
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 97/2001/QĐ-BTC › Chương 3 › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Khoản tiền lãi chuyển về Kho bạc Nhà nước Trung ương để trích lập quỹ dự phòng rủi ro (thu được từ nguồn Quỹ hỗ trợ việc làm Trung ương) được sử dụng và quyết toán như sau:

1/ Nội dung chi:

- Bù đắp các khoản vốn vay từ nguồn vốn của Trung ương bị tổn thất do các nguyên nhân bất khả kháng được cấp có thẩm quyền quyết định xoá nợ.

 - Trích bồi dưỡng cho cơ quan công an, Viện kiểm sát, Toà án, cơ quan chính quyền các cấp, các đoàn thể có tham gia thu hồi nợ quá hạn khó đòi.

 - Chi trả toà án phí theo quy định hiện hành của Nhà nước.

- Bổ sung Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội sau khi đã thống nhất với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2/ Cấp phát và quyết toán:

- Đối với các khoản vốn vay bị rủi ro bất khả kháng được xử lý xoá nợ nợ thực hiện theo quy định cuả Liên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội - Tài chính - Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn xử lý đối với các dự án vay vốn Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm bị rủi ro bất khả kháng.

- Đối với các khoản vốn vay nợ quá hạn khó đòi: Kho bạc Nhà nước đã đôn đốc nhiều lần nhưng chủ dự án cố tình dây dưa không chịu trả, buộc phải chuyển hồ sơ dự án sang cơ quan chính quyền, công an, pháp luật để phối hợp thu nợ, sau khi chủ dự án trả nợ (vốn gốc và lãi, kể cả lãi phạt quá hạn) Kho bạc Nhà nước chi trả bồi dưỡng cho các cơ quan tham gia thu nợ số tiền bằng 5% trên tổng số vốn gốc thu được.

- Nguồn chi trả cho các cơ quan phối hợp thu nợ: Kho bạc Nhà nước địa phương tạm ứng kinh phí để chi trả đồng thời 6 tháng và hàng năm báo cáo với Kho bạc Nhà nước Trung ương (gửi kèm bảng kê chứng từ có liên quan về việc bồi dưỡng cho các cơ quan tham gia thu nợ ) để làm cơ sở xem xét cấp kinh phí hoàn trả lại số kinh phí kho bạc địa phương. Kho bạc Nhà nước Trung ương có nhiệm vụ tổng hợp báo cáo quyết toán với Liên Bộ số kinh phí đã chi phí cho việc thu nợ khó đòi. - Đối với các dự án nợ quá hạn khó đòi phải chuyển hồ sơ cho toà án: Kho bạc Nhà nước địa phương nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định về án phí, lệ phí của Toà án. Sau đó căn cứ quyết định của Toà án, trường hợp Kho bạc Nhà nước không phải chịu án phí được hoàn trả lại toàn bộ tiền án phí, trường hợp phải chịu một phần án phí, Kho bạc Nhà nước lập báo cáo quyết toán (kèm bảng kê chứng từ nộp án phí) gửi Kho bạc Nhà nước TW để làm cơ sở cấp kinh phí hoàn trả chi phí về án phí mà Kho bạc Nhà nước địa phương.