Điều 18. Trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các xã, phường
1. Tổ chức thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý theo đúng các quy định của pháp luật có liên quan về bảo vệ bí mật nhà nước và Quy chế này.
2. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan, tổ chức chủ động nghiên cứu xây dựng, ban hành Nội quy bảo vệ bí mật nhà nước để thực hiện trong cơ quan, đơn vị, địa phương mình.
3. Có văn bản phân công người thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước tại văn phòng hoặc đơn vị, bộ phận hành chính, tổng hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định 63/2026/NĐ-CP; tạo điều kiện cho người được phân công tham gia đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức về bảo vệ bí mật nhà nước; kịp thời bố trí người thay thế và tổ chức bàn giao các loại hồ sơ, tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước theo quy định.
4. Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện và chấp hành quy định của pháp luật, Quy chế về bảo vệ bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý.
5. Chỉ đạo xử lý và kịp thời thông tin, phối hợp với cơ quan Công an khi xảy ra lộ, mất bí mật nhà nước thuộc phạm vi quản lý.
6. Khi người được phân công quản lý bí mật nhà nước thôi việc, chuyển công tác, nghỉ hưu hoặc vì lý do khác mà không được phân công tiếp tục quản lý bí mật nhà nước phải tổ chức thu hồi tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước và yêu cầu bàn giao bí mật nhà nước (phải có biên bản bàn giao) cho cơ quan, đơn vị có thẩm quyền quản lý và cam kết bảo vệ bí mật nhà nước đã quản lý (thực hiện theo mẫu số 03 tại phụ lục của Quy chế này).
7. Phổ biến, sao gửi các danh mục bí mật nhà nước thuộc các ngành, lĩnh vực đến các phòng, ban của cơ quan, đơn vị để nghiên cứu, quán triệt thực hiện và làm căn cứ xác định độ mật trong quá trình soạn thảo, ban hành, tạo ra bí mật nhà nước.
8. Báo cáo kết quả thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý đảm bảo thời hạn, nội dung theo quy định.