vanban.org

Điều 4. Thủ tục nhận thù lao cho hòa giải viên — Quyết định 93/2006/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/11/2011 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 20/11/2011 Thay thế: 72/2011/QĐ-UBND · 10/11/2011
Hồ Chí Minh Ban hành 29/06/2006 Hiệu lực 09/07/2006 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 3 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 72/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. · 72/2011/QĐ-UBND
Quyết định số 93/2006/QĐ-UBND Về Quy định việc quản lý và sử dụng kinh phí đảm bảo cho công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. · 93/2006/QĐ-UBND
20/11/201172/2011/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 09/07/2006Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 93/2006/QĐ-UBND › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Thủ tục nhận thù lao cho hòa giải viên

Tổ hoà giải sau khi tổ chức hòa giải 1 vụ việc, để được hưởng chế độ thù lao theo quy định tại khoản 1, điều 3 của Quy định này cần phải thực hiện đủ các thủ tục sau đây:

1. Trường hợp hòa giải không thành hoặc hòa giải thành nhưng đương sự không yêu cầu lập biên bản thì tổ hoà giải phải có báo cáo về vụ việc hòa giải đó. Nội dung báo cáo gồm:

- Tổ hoà giải; ngày, tháng, năm, hoà giải; thành phần tham gia hòa giải; địa điểm hoà giải; nội dung tranh chấp của các bên; số lần tiến hành hòa giải; kết quả hòa giải; lý do hòa giải không thành hoặc hòa giải thành; cam kết của các bên tranh chấp sau khi hòa giải.

- Báo cáo phải có chữ ký của tổ trưởng tổ hòa giải hoặc người tiến hành hòa giải.

2. Trường hợp hòa giải không thành hoặc hòa giải thành nhưng đương sự yêu cầu lập biên bản về vụ việc hòa giải đó thì tổ hòa giải hoặc người tiến hành hòa giải phải lập biên bản về vụ việc hòa giải.

Biên bản hòa giải cũng phải có đầy đủ nội dung như bản báo cáo nêu trên.

3. Bản báo cáo hoặc biên bản về vụ việc hòa giải phải được gửi về cho Ủy ban nhân dân xã - phường, thị trấn và được Ủy ban nhân dân xã - phường, thị trấn xác nhận và đóng dấu.