vanban.org

Điều 4. Việc luân chuyển hồ sơ về nghĩa vụ tài chính giữa các cơ quan liên quan được thực hiện trình tự theo các bước sau: — Quyết định 89/2005/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/2017 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/10/2017 Thay thế: 63/2017/QĐ-UBND · 25/09/2017
Quảng Ngãi Ban hành 06/07/2005 Hiệu lực 01/08/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 21 năm
Quyết định số 63/2017/QĐ-UBND Ban hành Quy trình tiếp nhận, luân chuyển hồ sơ để xác định, thu nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và các khoản thuế, phí, lệ phí khác liên quan đến sử dụng đất đai của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 63/2017/QĐ-UBND
Quyết định số 89/2005/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định việc luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 của liên Bộ Tài chính-Bộ Tài nguyên và Môi trường · 89/2005/QĐ-UBND
10/10/201763/2017/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 01/08/2005Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 89/2005/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Việc luân chuyển hồ sơ về nghĩa vụ tài chính giữa các cơ quan liên quan được thực hiện trình tự theo các bước sau:

1. Người sử dụng đất thực hiện kê khai và nộp hai (02) bộ hồ sơ về nghĩa vụ tài chính tại cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính nơi có đất.

2. Cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của bộ hồ sơ của người sử dụng đất nộp (nếu chưa đủ căn cứ để xác định nghĩa vụ tài chính thì yêu cầu người sử dụng đất bổ sung), xác nhận và ghi đầy đủ các chỉ tiêu vào “Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính”, sau đó chuyển ngay trong ngày cho Cục thuế tỉnh hoặc Chi cục thuế địa phương (sau đây gọi chung là cơ quan thuế) gồm:

- Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính;

- Một (01) bộ hồ sơ về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất.

Riêng hồ sơ do UBND xã, thị trấn tiếp nhận thì trong thời hạn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, UBND xã, thị trấn có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Cơ quan đăng ký.

Cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính cử cán bộ trực tiếp mang và bàn giao hồ sơ về nghĩa vụ tài chính tại trụ sở Chi cục thuế địa phương. Riêng đối với các trường hợp UBND tỉnh giao đất có thu tiền sử dụng đất và thu thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất của các doanh nghiệp do Cục Thuế quản lý thì cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh bàn giao hồ sơ tại trụ sở Cục Thuế tỉnh. Cục Thuế tỉnh có trách nhiệm cung cấp các danh sách có trách nhiệm cung cấp danh sách các doanh nghiệp thuộc Cục Thuế quản lý cho cơ quan nhận hồ sơ biết để bàn giao hồ sơ đúng nơi quy định.

3. Cơ quan thuế tiếp nhận hồ sơ, thực hiện kiểm tra tính đầy đủ theo quy định của từng loại giấy tờ có trong hồ sơ. Nếu hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định, chưa đủ cơ sở để xác định nghĩa vụ tài chính thì gửi trả lại cho cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính để bổ sung. Khi hồ sơ đầy đủ thì tiếp nhận và ghi vào “Sổ giao nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính” (mẫu 04-05/GNHS).

Trong thời hạn ba (3) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, cơ quan thuế phải xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất phải thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời, lập Thông báo nộp tiền và cử cán bộ trực tiếp mang và bàn giao Thông báo nộp tiền tại trụ sở cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính (nơi đã giao hồ sơ về nghĩa vụ tài chính cho cơ quan thuế trước đó).

4. Cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính gửi Thông báo nộp tiền cho người sử dụng đất để thực hiện nghĩa vụ tài chính vào ngân sách nhà nước.

5. Người sử dụng đất khi nhận được Thông báo nộp tiền do Cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính gửi đến, có nghĩa vụ mang Thông báo nộp tiền đến cơ quan thu tiền (Kho bạc Nhà nước hoặc Chi cục Thuế) theo địa chỉ, thời hạn nộp tiền ghi trong Thông báo để nộp tiền vào ngân sách nhà nước.

6. Cơ quan thu tiền thực hiện thu tiền theo Thông báo nộp tiền do người sử dụng đất hoặc người được người sử dụng đất uỷ quyền mang đến. Khi thu tiền, cơ quan thu tiền phải lập chứng từ thu tiền: Giấy nộp tiền nếu là Kho bạc Nhà nước thu, hoặc Biên lai thu tiền nếu là Chi cục Thuế thu. Trường hợp ngày nộp tiền vào ngân sách quá thời hạn quy định tại Thông báo nộp tiền thi cơ quan thu tiền thực hiện tính phạt nộp chậm, ghi vào phần II của Thông báo nộp tiền (phần tính phạt chậm nộp) và thu tiền phạt theo quy định của pháp luật.

7. Sau khi nộp đủ số tiền vào ngân sách nhà nước theo Thông báo nộp tiền và tiền phạt chậm nộp (nếu có), người sử dụng đất mang chứng từ đã nộp tiền (Giấy nộp tiền hoặc Biên lai thu tiền) đến cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính để nhận Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất.

8. Cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính kiểm tra chứng từ nộp tiền; nếu người sử dụng đất đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính thì sao lưu chứng từ nộp tiền (bản phô tô) vào hồ sơ và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.

9. Định kỳ hàng tháng, vào ngày làm việc đầu tiên của tháng sau Cơ quan nhận hồ sơ về nghĩa vụ tài chính và cơ quan thuế thực hiện kiểm tra, đối chiếu số hồ sơ về nghĩa vụ tài chính, số Thông báo nộp tiền đã giao, nhận trong tháng giữa hai bên; số hồ sơ đã giải quyết, số hồ sơ còn tồn đọng; nguyên nhân tồn đọng, chậm trễ của từng hồ sơ. Mỗi lần kiểm tra đối chiếu phải lập biên bản ghi rõ nội dung đã kiểm tra đối chiếu, nêu nguyên nhân và kế hoạch giải quyết những hồ sơ còn tồn đọng. Địa điểm kiểm tra đối chiếu do hai bên thoả thuận. Ở các huyện miền núi, hải đảo nếu trong tháng phát sinh dưới mười (10) hồ sơ thì có thể vận dụng kiểm tra, đối chiếu theo định kỳ hàng quý.