Điều 9. Thẩm định dự thảo văn bản QPPL:
1. Cơ quan thẩm định văn bản QPPL:
a) Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định văn bản QPPL do UBND tỉnh ban hành;
b) Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định văn bản QPPL do UBND cấp huyện ban hành;
2. Chậm nhất là 15 ngày (đối với cấp tỉnh) hoặc 10 ngày (đối với cấp huyện) trước ngày UBND họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo văn bản QPPL cho cơ quan Tư pháp cùng cấp để thẩm định.
Hồ sơ gửi thẩm định bao gồm:
a) Công văn yêu cầu thẩm định;
b) Tờ trình và dự thảo văn bản QPPL đã được chỉnh lý sau khi nghiên cứu và tiếp thu ý kiến tham gia;
c) Bảng tổng hợp ý kiến về dự thảo văn bản QPPL;
d) Các tài liệu có liên quan (văn bản QPPL làm căn cứ để ban hành văn bản; tổng hợp kết quả điều tra khảo sát (nếu có); Xác định văn bản hoặc từng phần văn bản dự kiến bãi bỏ...).
3. Phạm vi thẩm định:
a) Sự cần thiết ban hành văn bản;
b) Đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản;
c) Tính hợp tiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật;
d) Thể thức và kỹ thuật soạn thảo văn bản;
Cơ quan Tư pháp có thể đưa ra ý kiến về tính khả thi của dự thảo.
4. Cơ quan Tư pháp phải gửi báo cáo thẩm định cho cơ quan chủ trì soạn thảo chậm nhất là 7 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thẩm định. Trong trường hợp cần thiết cơ quan thẩm định có quyền yêu cầu cơ quan soạn thảo thuyết trình về nội dung dự thảo, cung cấp thông tin, tài liệu khác liên quan đến dự thảo.
Trong quá trình tổ chức thẩm định, cơ quan Tư pháp có thể mời các chuyên gia am hiểu vấn đề chuyên môn thuộc nội dung dự thảo tham gia thẩm định.
5. Sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và tờ trình để trình UBND, đồng thời báo cáo giải trình bằng văn bản về tiếp thu ý kiến thẩm định. Bản giải trình và dự thảo đã chỉnh lý theo ý kiến thẩm định được sao gửi đến cơ quan thẩm định và văn phòng UBND cùng cấp.