Điều 6. Tổ chức bộ máy, biên chế của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả
1. Tổ chức bộ máy
a) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở các sở, ban, ngành do một cán bộ lãnh đạo của Văn phòng sở, ban, ngành làm trưởng bộ phận; đối với Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội do một cán bộ lãnh đạo phòng Hành chính – Tổ chức làm trưởng bộ phận và một số công chức chuyên trách;
b) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở Ủy ban nhân dân cấp huyện trực thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, do một cán bộ lãnh đạo Văn phòng làm trưởng bộ phận và một số công chức chuyên trách;
c) Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở Ủy ban nhân dân cấp xã do một Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã làm trưởng bộ phận và có ít nhất 01 công chức chuyên trách và một số kiêm nhiệm là các chức danh quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ quy định về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
2. Biên chế
a) Biên chế của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của các sở, ban, ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện do Thủ trưởng cơ quan, Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định trong tổng số biên chế được giao cho cơ quan;
b) Biên chế của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả tại xã, phường, thị trấn được bố trí 02 (hai) biên chế và lấy trong tổng biên chế được giao cho cấp xã theo quy định cụ thể như sau: đối với các xã có trên 10.000 dân được sử dụng 02 (hai) công chức ở chức danh văn phòng – thống kê làm chuyên trách tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; những xã có dưới 10.000 dân được sử dụng 01 (một) công chức ở chức danh văn phòng – thống kê làm chuyên trách và một chỉ tiêu hợp đồng làm kiêm nhiệm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Đối với địa phương có quá nhiều giao dịch giải quyết công việc cho tổ chức, cá nhân mà cán bộ chuyên trách không thể giải quyết kịp thời thì Chủ tịch UBND cấp xã được sử dụng công chức cơ sở ở chức danh chuyên môn làm kiêm nhiệm tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả.