Điều 10. Ngân sách Nhà nước hỗ trợ cho các hoạt động sau:
1. Điều tra, khảo sát, sưu tầm, thống kê, giới thiệu làng Thái cổ, các kiến trúc nhà sàn, các loại nhạc cụ, khí cụ, hàng thổ cẩm; các sản phẩrn đan lát, rèn và trang phục đặc trưng của các dân tộc thiếu số quy định tại khoản 1 và 2 Điều 4 Quy định này.
2. Tổ chức sưu tầm, nghiên cứu, giới thiệu các loại hình văn học, truyện kể dân gian, các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ quy định tại Điều 5 của Quy định này.
3. Tổ chức mỗi năm một lần thi sáng tác các làn điệu dân ca, dân nhạc, dân vũ của các dân tộc thiểu số quy định tại khoản 4, 5 Điều 5 Quy định này; tổ chức biểu diễn văn nghệ, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở huyện hai năm một lần, ở tỉnh ba năm một lần.
4. Tổ chức các lễ hội văn hoá dân gian truyền thống của các dân tộc thiểu số quy định tại Điều 6 Quy định này gắn với các hoạt động du lịch văn hoá, lịch sử; tổ chức thi văn hoá ẩm thực giữa các dân tộc trong tỉnh quy định tại Điều 7 của Quy định này.
5. Nghiên cứu, hội thảo, bảo tồn ngôn ngữ của dân tộc Ơđu, tộc người Đan lai, Tày Poọng thuộc nhóm dân tộc Thổ; phổ biến chữ viết của dân tộc Mông, dân tộc Thái trong các trường tiểu học và trung học cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc Mông, dân tộc Thái.
6. Tổ chức mở các lớp tập huấn về sản xuất, sử dụng các loại nhạc cụ, khí cụ quy định tại khoản 2 Điều 4 Quy định này.
Nguồn kinh phí cho các hoạt động trên thực hiện theo nguyên tắc ngân sách tỉnh, huyện hỗ trợ; xã và cộng đồng các dân tộc đóng góp, huy động tài trợ các tổ chức, doanh nghiệp. Mức hỗ trợ tuỳ thuộc từng loại hình và quy mô tổ chức.