Điều 3. Mức thu tiền sử dụng khu vực biển
1. Sử dụng khu vực biển để nhận chìm (nhóm 1 theo quy định tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP): 20.000 đồng/m3;
2. Nhóm 2 theo quy định tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP:
a) Sử dụng khu vực biển để làm cảng biển, cảng nổi, cảng dầu khí ngoài khơi và các cảng, bến khác; làm vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, luồng hàng hải chuyên dùng, các công trình phụ trợ khác; vùng nước phục vụ hoạt động của cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, xây dựng cảng tàu vận tải hành khách: đối với vùng biển khu vực các phường: Hải Ninh, Vũng Áng, Hoành Sơn là 7.200.000 đồng/ha/năm; đối với các vùng biển còn lại là 6.700.000 đồng/ha/năm;
b) Sử dụng khu vực biển để làm vùng nước phục vụ hoạt động nhà hàng, khu dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao trên biển; khu neo đậu, trú nghỉ đêm của tàu thuyền du lịch: đối với vùng biển được công nhận điểm du lịch, khu du lịch là 7.200.000 đồng/ha/năm; đối với các vùng biển còn lại là 6.700.000 đồng/ha/năm;
c) Sử dụng khu vực biển để khai thác dầu khí; khai thác khoáng sản; trục vớt hiện vật, khảo cổ: 6.700.000 đồng/ha/năm.
3. Sử dụng khu vực biển để xây dựng hệ thống đường ống dẫn ngầm, cáp điện (nhóm 4 theo quy định tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP): 5.700.000 đồng/ha/năm;
4. Sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, xây dựng cảng cá (nhóm 5 theo quy định tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP): 4.700.000 đồng/ha/năm;
5. Sử dụng khu vực biển để khai thác năng lượng sóng, gió, thủy triều, dòng hải lưu (nhóm 6 theo quy định tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 65/2025/NĐ-CP): 4.200.000 đồng/ha/năm;
6. Đối với những hoạt động sử dụng khu vực biển chưa có quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và khoản 5 Điều này, giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính và các sở, ngành và địa phương có liên quan tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định trong từng trường hợp cụ thể nhưng không thấp hơn 3.000.000 đồng/ha/năm và không cao hơn 7.500.000 đồng/ha/năm.