Điều 8. Việc xử lý nợ bị rủi ro
1. Việc xử lý nợ bị rủi ro được thực hiện theo Quyết định số 69/2005/QĐ-TTg ngày 4 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội, Thông tư số 65/2005/TT-BTC ngày 16 tháng 8 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quy chế xử lý nợ bị rủi ro của Ngân hàng Chính sách xã hội và các văn bản hiện hành khác của Ngân hàng Chính sách xã hội, trừ các quy định về thẩm quyền và nguồn vốn để xử lý nợ bị rủi ro.
2. Về thẩm quyền xử lý rủi ro:
a) Đối với rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra trên diện rộng do Chủ tịch UBND thành phố quyết định;
b) Đối với rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra thuộc diện đơn lẻ, cục bộ:
- Trưởng ban Ban Đại diện Hội đồng quản trị Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Đà Nẵng quyết định đối với việc giảm lãi vay, miễn lãi vay;
- Chủ tịch UBND thành phố quyết định đối với việc xoá nợ (gốc và lãi).
3. Về nguồn vốn xử lý rủi ro:
a) Đối với rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra trên diện rộng do Chủ tịch UBND thành phố quyết định;
b) Đối với rủi ro do nguyên nhân khách quan xảy ra thuộc diện đơn lẽ, cục bộ được lấy từ Quỹ dự phòng rủi ro của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Đà Nẵng. Quỹ dự phòng rủi ro được trích lập theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Quy chế này.
Trường hợp Quỹ dự phòng rủi ro không đủ bù đắp, Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Đà Nẵng cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Sở Tài chính thống nhất báo cáo Chủ tịch UBND thành phố xem xét quyết định.