Điều 4. Nguyên tắc phối hợp
1. Hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị phải tuân thủ Luật Biên giới quốc gia số 06/2003/QH11 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 66/2020/QH14; Luật Biên phòng Việt Nam số 66/2020/QH14; Luật Hải quan số 54/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 71/2014/QH13, Luật số 35/2018/QH14, Luật số 67/2020/QH14, Luật số 07/2022/QH15, Luật số 90/2025/QH15, Luật số 133/2025/QH15, các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế về biên giới, cửa khẩu và các văn bản pháp luật có liên quan trên cơ sở thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.
2. Hoạt động phối hợp phải đảm bảo đúng nguyên tắc và yêu cầu nghiệp vụ chuyên môn của mỗi cơ quan, đơn vị. Những vướng mắc phát sinh trong quá trình phối hợp phải được bàn bạc thống nhất giải quyết dựa trên quy định của pháp luật, yêu cầu nghiệp vụ của mỗi cơ quan, đơn vị. Trường hợp không thống nhất được thì báo cáo lãnh đạo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
3. Việc phối hợp phải đảm bảo kịp thời, hiệu quả không gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; tôn trọng, đoàn kết, giúp đỡ nhau; bảo đảm chế độ bảo mật thông tin, bí mật nhà nước trong hoạt động đối ngoại theo quy định của pháp luật.
4. Các cơ quan quản lý nhà nước tại cửa khẩu, lối mở biên giới đất liền có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ để đảm bảo từng lĩnh vực chỉ có một cơ quan quản lý nhà nước chủ trì thực hiện, tránh sơ hở, chồng chéo, đồng thời không cản trở đến hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước khác.