Điều 17. Thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc thù
1. Thôn, tổ dân phố được xem xét là trường hợp đặc thù khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thôn, tổ dân phố thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của cơ quan có thẩm quyền;
b) Thôn, tổ dân phố nằm biệt lập trên các đảo; thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp; giao thông đi lại khó khăn; dân cư sinh sống phân tán; việc kết nối với thôn, tổ dân phố liền kề không thuận lợi do điều kiện tự nhiên hoặc điều kiện hạ tầng;
c) Thôn, tổ dân phố ở địa bàn biên giới, hải đảo hoặc thuộc khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư theo quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
d) Các trường hợp đặc thù khác phát sinh từ yêu cầu quản lý địa bàn, điều kiện thực tế của địa phương, tính ổn định và gắn kết cộng đồng dân cư như yếu tố về tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán do cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định trên cơ sở đề án và hồ sơ chứng minh.
2. Thôn, tổ dân phố thuộc trường hợp đặc thù quy định tại khoản 1 Điều này được xem xét duy trì tổ chức hiện có mặc dù chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình quy định tại Điều 16 Quy chế này khi bảo đảm các điều kiện sau:
a) Việc sắp xếp, tổ chức lại không phù hợp với điều kiện thực tế hoặc ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý địa bàn, đời sống sinh hoạt của Nhân dân;
b) Bảo đảm tính ổn định, gắn kết cộng đồng dân cư; phù hợp với lịch sử hình thành, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của địa phương;
c) Bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia;
d) Được cộng đồng dân cư thống nhất thông qua theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.
3. Việc xem xét, quyết định đối với thôn, tổ dân phố thuộc trường hợp đặc thù phải bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch; phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương; không làm phát sinh việc chia tách hoặc duy trì tổ chức thôn, tổ dân phố không cần thiết.