vanban.org

Điều 9. - Nghĩa vụ và quyền lợi của Bên nhận khoán : — Quyết định 7506/1999/QĐ-UB-CNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 22/06/2026
Hồ Chí Minh Ban hành 08/12/1999 Hiệu lực 08/12/1999 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 7506/1999/QĐ-UB-CNN › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. - Nghĩa vụ và quyền lợi của Bên nhận khoán :

9.1- Bên nhận khoán có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những cam kết ghi trong hợp đồng khoán.

9.2- Được hưởng công khoán bảo vệ rừng (gồm cả rừng trồng và rừng tự nhiên) với mức bình quân 185.000 đồng/ha/năm.

Tùy điều kiện khó, dễ của khu rừng nhận khoán bảo vệ, tình hình tài nguyên rừng và điều kiện đất đai ưu đãi trong sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp, các dịch vụ kết hợp, Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện Cần Giờ quy định mức hưởng tiền công bảo vệ rừng cụ thể cho từng khu rừng hoặc khu vực, nhưng không dưới 150.000 đồng/ha/năm và không quá 200.000 đồng/ha/năm.

9.3- Được tận thu các sản phẩm phụ từ rừng nhận khoán theo quy định của Nhà nước và theo hướng dẫn của Bên khoán.

9.4- Đối với đất trống, lãng trũng, bãi bồi, đất ngập nước khi được sự đồng ý của Bên khoán, nếu Bên nhận khoán tự đầu tư vốn để sản xuất thì được hưởng toàn bộ sản phẩm khi thu hoạch và được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật.

9.5- Đối với hộ gia đình và cá nhân nhận khoán được trợ cấp ban đầu một số tiền để làm chốt bảo vệ, mua sắm phương tiện cần thiết cho bảo vệ rừng và cho sinh hoạt. Ngoài ra, còn được cấp 6 triệu đồng/hộ để cất nhà và được cấp một xuồng chèo để làm phương tiện đi lại tuần tra, thời gian sử dụng trong 3 năm.

9.6- Khi thời gian nhận khoán theo hợp đồng chưa kết thúc, trong trường hợp chủ hộ nhận khoán chết thì được chuyển quyền nhận khoán bảo vệ rừng cho người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế ; nếu do hoàn cảnh khách quan không thể tiếp tục nhận khoán được nữa thì báo cho Bên khoán lập hồ sơ thanh lý hợp đồng để Bên khoán giao cho hộ gia đình, cá nhân hoặc đơn vị khác nhận chăm sóc, bảo vệ rừng.

9.7- Trong khu vực nhận khoán có đất trống, nếu thành phố đầu tư trồng rừng thì Bên nhận khoán được ưu tiên ký hợp đồng khoán trồng rừng, chăm sóc rừng mới trồng và sau đó được bổ sung diện tích vào hợp đồng khoán bảo vệ rừng. Nếu Bên nhận khoán không nhận trồng rừng thì Bên khoán (chủ rừng Nhà nước) đưa lực lượng khác tới trồng và sau khi rừng trồng được nghiệm thu thì giao lại cho Bên nhận khoán khu rừng đó bảo vệ và bổ sung diện tích rừng trồng mới vào hợp đồng khoán bảo vệ rừng cho Bên nhận khoán.

9.8- Khi Bên khoán vi phạm hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho Bên nhận khoán hoặc Bên nhận khoán hủy bỏ hợp đồng tùy theo mức độ vi phạm của Bên khoán.

9.9- Trong trường hợp bị thiên tai, rủi ro thì được xét miễn, giảm các khoản phải nộp hoặc phải bồi thường cho Bên khoán theo quy định của pháp luật.