Điều 4. Căn cứ xác định tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, kết quả khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm
1. Tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm được xác định theo các loại tài liệu sau đây: hồ sơ địa chính; cơ sở dữ liệu đất đai; cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia; bản đồ địa hình quốc gia; hệ thống dữ liệu ảnh hàng không; hệ thống dữ liệu ảnh viễn thám; dữ liệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất; dữ liệu bản đồ thổ nhưỡng; dữ liệu bản đồ hiện trạng rừng.
2. Trường hợp có nhiều loại tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này mà nội dung thể hiện khác nhau về tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm thì xác định theo tài liệu có thời điểm thành lập mới nhất.
3. Trường hợp không có hoặc có tài liệu quy định tại khoản 1 Điều này nhưng nội dung không thể hiện hoặc thể hiện không rõ ràng về tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm thì xác định theo tài liệu khác đã, đang được sử dụng để phục vụ công tác quản lý đất đai tại địa phương hoặc theo xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã trên cơ sở thu thập thông tin từ ảnh chụp, ảnh vệ tinh, ảnh viễn thám, ý kiến của những người sử dụng đất liền kề, người đã từng cư trú tại nơi có đất trước hoặc cùng thời điểm xảy ra vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai bị xử phạt vi phạm hành chính.
4. Kết quả khôi phục tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm của người vi phạm hành chính phải được cá nhân hoặc đại diện cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm chủ trì tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc quyết định buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả tiến hành kiểm tra, xác nhận bằng biên bản dưới sự chứng kiến của đại diện chính quyền cấp xã nơi có đất vi phạm và các cơ quan, tổ chức có liên quan (nếu có).