Điều 8. Thẩm định dự thảo Nghị quyết
1. Cơ quan thẩm định dự thảo Nghị quyết.
a) Sở Tư pháp có trách nhiệm thẩm định đối với dự thảo nghị quyết do Uỷ ban nhân dân tỉnh trình.
b) Hội đồng thẩm định do Giám đốc Sở Tư pháp thành lập để thẩm định Nghị quyết do cơ quan tư pháp chủ trì soạn thảo.
2. Chậm nhất là mười lăm (15) ngày trước ngày UBND tỉnh họp, cơ quan soạn thảo phải gửi hồ sơ dự thảo nghị quyết đến Sở Tư pháp để thẩm định.
Hồ sơ thẩm định gồm:
a) Công văn yêu cầu thẩm định;
b) Tờ trình và dự thảo nghị quyết;
c) Bản tổng hợp ý kiến về dự thảo nghị quyết;
d) Các tài liệu có liên quan (văn bản QPPL làm căn cứ để ban hành văn bản; tổng hợp kết quả điều tra, khảo sát (nếu có)).
3. Phạm vi thẩm định bao gồm:
a) Sự cần thiết ban hành nghị quyết;
b) Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết;
c) Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự thảo nghị quyết với hệ thống pháp luật;
d) Ngôn ngữ kỹ thuật soạn thảo văn bản.
Cơ quan tư pháp có thể đưa ra ý kiến về tính khả thi của dự thảo nghị quyết.
4. Chậm nhất là bảy (07) ngày trước ngày UBND tỉnh họp, Sở Tư pháp gửi báo cáo thẩm định đến cơ quan soạn thảo. Trong trường hợp cần thiết cơ quan thẩm định có quyền yêu cầu cơ quan soạn thảo thuyết trình về nội dung dự thảo, cung cấp thông tin, tài liệu khác liên quan đến dự thảo.
5. Sau khi nhận được báo cáo thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo và tờ trình để trình UBND, đồng thời báo cáo giải trình bằng văn bản về việc tiếp thu ý kiến thẩm định.
Bản giải trình và dự thảo đã chỉnh lý theo ý kiến thẩm định được sao gửi đến cơ quan thẩm định và Văn phòng UBND tỉnh.