Điều 4. Chính sách hưởng lợi từ rừng
1. Hưởng lợi từ rừng phòng hộ không có giao khoán:
Chủ rừng được hưởng toàn bộ giá trị lâm sản khai thác từ rừng phòng hộ sau khi nộp các khoản thuế, phí theo quy định hiện hành, chi trả hưởng lợi cho đối tượng nhận khoán (nếu có) và phải trồng lại rừng vào thời vụ sớm nhất ngay sau khi hoàn thành việc khai thác.
2. Hưởng lợi từ rừng sản xuất không có giao khoán:
Chủ rừng được hưởng toàn bộ giá trị lâm sản khai thác từ rừng sản xuất sau khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, phí, chi trả hưởng lợi cho đối tượng nhận khoán (nếu có) và hoàn trả kinh phí ngân sách nhà nước đã đầu tư theo quy định và phải trồng lại rừng vào thời vụ sớm nhất ngay sau khi hoàn thành việc khai thác.
3. Hưởng lợi từ rừng trồng phòng hộ, sản xuất khi thực hiện giao khoán cho bên nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng(từ thời điểm kết thúc đầu tư xây dựng cơ bản cho đến khi khai thác):
a) Trường hợp bênnhận khoán quản lý, bảo vệ rừng đã nhận chi trả tiền quản lý bảo vệ hàng năm:
- Bên nhận khoán được hưởng 12%nguồn thu.
- Ủy ban nhândân cấp xã được hưởng 3% nguồn thuđể bổ sung kinh phí quản lý bảo vệ rừng và phòng chữa cháy rừng của địa phương.
- Chủ rừng được hưởng 85%nguồn thu và có trách nhiệm hoàn trả kinh phí ngân sách nhà nước đã đầu tư (đối với rừng sản xuất) và phải trồng lại rừng vào thời vụ sớm nhất ngay sau khi hoàn thành việc khai thác.
b) Trường hợp bên nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng không nhận tiền quản lý bảo vệ hàng năm:
- Bên nhận khoán được hưởng 15% nguồn thu.
- Ủy ban nhân dân cấp xã được hưởng 3% để bổ sung kinh phí quản lý bảo vệ rừng và phòng chữa cháy rừng của địa phương.
- Chủ rừng được hưởng 82%nguồn thu và có trách nhiệm hoàn trả kinh phí ngân sách nhà nước đã đầu tư (đối với rừng sản xuất) và phải trồng lại rừng vào thời vụ sớm nhất ngay sau khi hoàn thành việc khai thác.