vanban.org

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án xây dựng xã hội học tập đến năm 2010 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với các nội dung chủ yếu sau đây: — Quyết định 72/2007/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 31/12/2010
Đà Nẵng Ban hành 21/12/2007 Hiệu lực 31/12/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 72/2007/QĐ-UBND › Điều 1
Đọc toàn văn

Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án xây dựng xã hội học tập đến năm 2010 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Mục tiêu:

a) Duy trì bền vững và nâng cao chất lượng kết quả xoá mù chữ, phấn đấu giữ vững tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35 đạt tỉ lệ 100%; tăng nhanh tỷ lệ xoá mù chữ trong nhóm đối tượng từ 36 đến 40 tuổi.

Huy động 100% trẻ em trong độ tuổi từ 6 đến 14 tuổi vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà trường được học theo các chương trình phổ cập. Nâng tỉ lệ phổ cập tiểu học đúng độ tuổi 1%/năm để đến năm 2010 đạt 99 - 100%.

Bảo đảm tỷ lệ người biết chữ bằng nhau giữa nam và nữ.

b) Phấn đấu đạt tỷ lệ trên 80% số cán bộ cấp xã, phường và các quận, huyện được học tập, bồi dưỡng cập nhật kiến thức về quản lý, pháp luật, kinh tế và xã hội nhằm nâng cao năng lực làm việc.

c) Đạt tỷ lệ 100% số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan nhà nước được tham gia một trong các khoá đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ…

Kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài, nhất là tài năng trẻ trên các lĩnh vực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố thông qua Đề án đào tạo 100 tiến sỹ, thạc sỹ tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước.

d) Phát triển bền vững Trung tâm Học tập cộng đồng xã, phường; nâng cao chất lượng các mặt hoạt động các Trung tâm Học tập cộng đồng; đạt tỷ lệ trên 95% số người lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp được tiếp cận và thụ hưởng các chương trình về bồi dưỡng  nâng cao hiểu biết, khả năng lao động, sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống.

đ) Chấn chỉnh tổ chức và nâng cao chất lượng các mặt hoạt động của các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp, Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, Trung tâm Học tập cộng đồng, Trung tâm ngoại ngữ, tin học theo hướng hoàn thiện mô hình tổ chức, tăng cường trách nhiệm cho cơ sở, đảm bảo chất lượng và hiệu quả đào tạo; quản lý chặt các khâu thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ.

Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp, Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp: Nâng cấp, sửa chữa cơ sở 1 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp Hải Châu và Trung tâm Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp Ngũ Hành Sơn; xây thêm phòng học cho các Trung tâm Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp Thanh Khê, Liên Chiểu, Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp Sơn Trà; xây mới Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp Hòa Vang, Cẩm Lệ và cơ sở 2 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp Hải Châu.

Mua sắm thiết bị dạy học cho các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp, Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp để có khả năng thực hiện nhiều chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân.

2.  Nhiệm vụ chủ yếu

a) Xây dựng phong trào “Cả thành phố trở thành một xã hội học tập”

- Xây dựng phong trào “Cả thành phố trở thành một xã hội học tập” gắn chặt chẽ với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”. Nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trong việc học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời và tham gia xây dựng xã hội học tập để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của thành phố.

- Thiết lập các nội dung, cơ chế hoạt động, phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, ngành giáo dục, các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các đoàn thể từ thành phố đến cơ sở để triển khai, tổ chức các hoạt động nhằm thu hút mọi tầng lớp nhân dân tham gia phong trào xây dựng cả thành phố trở thành một xã hội học tập.

Xây dựng các biện pháp cụ thể để tổ chức triển khai thực hiện và duy trì thường xuyên phong trào “Cả thành phố trở thành một xã hội học tập” có chất lượng và hiệu quả cao, theo đúng tinh thần Chỉ thị số 15-CT/TU ngày 16/4/2004 của Thành uỷ Đà Nẵng về việc tăng cường lãnh đạo phát triển mạng lưới và hoạt động các Trung tâm Học tập cộng đồng.

- Khuyến khích, đẩy mạnh các hoạt động khuyến học, khuyến tài nhằm huy động, thu hút mọi lực lượng xã hội tham gia xây dựng xã hội học tập, góp phần xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển, lành mạnh, vừa mang bản sắc dân tộc, vừa từng bước tiếp cận trình độ tiên tiến của thế giới; khắc phục những hạn chế, ngăn chặn những tiêu cực, tạo cơ hội và điều kiện cần thiết cho việc học tập.

- Nhân rộng và phát huy tính hiệu quả của các mô hình “gia đình hiếu học”, “dòng họ khuyến học”, “tổ dân phố văn hóa, thôn văn hóa”, “xã, phường
khuyến học”.

- Khuyến khích đẩy mạnh việc áp dụng các thành tựu về khoa học, công nghệ vào sản xuất, cải tiến kỹ thuật, giúp cho các cộng đồng dân cư ở nông thôn, miền núi, vùng ven biển cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.

b) Xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để củng cố và mở rộng các cơ sở giáo dục thường xuyên nhằm đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời của mọi đối tượng.

- Các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp, Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp củng cố, xây dựng, mở rộng quy mô hợp lý, nâng cao chất lượng, năng lực của Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố, Trung tâm Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp các quận, huyện và Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp. Tăng cường đầu tư về đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất, trang thiết bị theo đúng Quy chế tổ chức và hoạt động của các trung tâm, tạo điều kiện để các trung tâm có đủ khả năng thực hiện các nội dung giáo dục thường xuyên, giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp theo quy định của pháp luật.

- Các Trung tâm học tập cộng đồng củng cố, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các Trung tâm Học tập cộng đồng nhằm thực hiện các chương trình xoá mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về mô hình Trung tâm Học tập cộng đồng để tiếp tục điều chỉnh các mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động. Phấn đấu đến năm 2010 đạt tỉ lệ 100% các Trung tâm Học tập cộng đồng hoạt động có hiệu quả. Đẩy mạnh thực hiện xã hội hóa hoạt động của các Trung tâm Học tập cộng đồng.

- Phát triển quy mô các cơ sở đào tạo mở trên địa bàn thành phố: Tiến hành sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm toàn diện về nội dung, chương trình, hình thức và phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo mở hiện nay. Từ đó,  xây dựng, điều chỉnh, bổ sung các quy định về tổ chức và hoạt động, khắc phục những hạn chế và tiếp tục phát triển, mở rộng quy mô các cơ sở hiện có theo nguyên tắc: hoạt động đào tạo của các cơ sở đào tạo mở được thực hiện theo phương thức đào tạo từ xa là chủ yếu.

- Các cơ sở học tập thường xuyên khác: Thành phố khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan, các tổ chức, các cơ sở sản xuất, dịch vụ, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thành lập các cơ sở học tập, bồi dưỡng thường xuyên cho người lao động, đặc biệt người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp chế biến, công nhân lao động ở các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp cổ phần và ở những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Phát triển các hình thức tổ chức học tập để thực hiện các chương trình phổ biến kiến thức nhằm chuyển giao và ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; học tập kiến thức văn hoá, xã hội, đời sống, nghề nghiệp nhằm các mục tiêu hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm và tự tạo việc làm, thích nghi với đời sống xã hội, góp phần thực hiện chương trình “5 không” và chương trình “3 có” của thành phố.

c) Xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục thường xuyên phù hợp với các mô hình tổ chức giáo dục thường xuyên

- Đổi mới, bổ sung, hoàn thiện và nâng cao chất lượng các chương trình xoá mù chữ, chương trình bổ túc văn hoá; các chương trình đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ; chương trình nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, kỹ năng, chuyển giao công nghệ của các ngành nghề; đặc biệt, cần coi trọng nâng cao chất lượng của các chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân.

- Thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục thường xuyên theo tinh thần phát huy tối đa vai trò chủ động, năng lực tự học và khai thác tiềm năng kinh nghiệm vốn có của người học.

- Mở rộng phạm vi, đối tượng áp dụng hình thức học tập: đào tạo, bồi dưỡng ngay tại nơi sản xuất, vừa làm vừa học, học từ xa, tự học có hướng dẫn để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học ở mọi lứa tuổi có điều kiện nâng cao trình độ học vấn và tạo sự liên thông giữa giáo dục thường xuyên và giáo dục chính quy.

- Đẩy mạnh phương thức giáo dục giáo dục từ xa và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Tăng cường sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông hiện đại, phương tiện nghe nhìn; tận dụng tối đa các phương tiện truyền thanh, truyền hình trung ương, địa phương phục vụ cho việc dạy và học theo phương thức giáo dục từ xa để nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục. Phối hợp với ngành khoa học và công nghệ, lồng ghép chương trình năng suất xanh, tiết kiệm năng lượng, sử dụng năng lượng sinh học, ứng dụng công nghệ sinh học, chuyển giao công nghệ; với ngành tư pháp trong chương trình phổ biến giáo dục pháp luật; với ngành thuỷ sản, nông, lâm trong chương trình khuyến nông, khuyến ngư… vào hoạt động của các Trung tâm Học tập cộng đồng.

d) Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên, cộng tác viên của các cơ sở  giáo dục thường xuyên

- Thực hiện tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với các đối tượng người lao động trong các Trung tâm Giáo dục thường xuyên theo các quy định của Nhà nước và đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục thường xuyên của thành phố.

- Tận dụng mọi khả năng, chất xám trong các cơ sở giáo dục chính quy và toàn xã hội để phát triển giáo dục thường xuyên, giáo dục ngoài nhà trường. Khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà giáo, các nhà khoa học, các chuyên gia giỏi, giàu kinh nghiệm trên mọi lĩnh vực tham gia vào hoạt động giáo dục thường xuyên, giáo dục ngoài nhà trường.

- Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc tìm việc làm cho các đối tượng được đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở giáo dục thường xuyên.

3. Các giải pháp thực hiện

a) Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo của UBND các cấp đối với các cơ sở giáo dục thường xuyên. Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phân công trách nhiệm rõ ràng; có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức từ thành phố đến các cơ sở để chỉ đạo tổ chức, triển khai phong trào ‘‘Cả thành phố trở thành một xã hội học tập’’.

Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đặc biệt cần phát huy vai trò quan trọng của Hội khuyến học thành phố trong việc tổ chức các hoạt động khuyến học và tham gia tích cực vào các hoạt động khác nhằm đẩy mạnh phong trào ‘‘Cả thành phố trở thành một xã hội học tập”. 

b) Tổ chức tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên về mục đích, ý nghĩa, nội dung của phong trào để mọi người dân, mọi cơ quan, mọi tổ chức nhận thức rõ, đồng tình, ủng hộ và có trách nhiệm tích cực tham gia xây dựng phong trào. Sử dụng nhiều phương tiện thông tin bằng nhiều hình thức tổ chức, biện pháp tuyên truyền nhằm đẩy mạnh và duy trì phong trào thường xuyên.

c) Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện và ban hành các cơ chế, chính sách và hệ thống văn bản hướng dẫn về giáo dục thường xuyên; xây dựng cơ chế phối hợp quản lý chặt chẽ, bảo đảm tính liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.

d) Tổ chức thanh tra, kiểm tra, đánh giá, kiểm định chất lượng; thực hiện công tác thi đua khen thưởng thường xuyên, định kỳ đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào ‘‘Cả thành phố trở thành một xã hội học tập”.

đ) Giải pháp về tài chính:

Kinh phí để thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục thường xuyên chủ yếu dựa trên cơ sở phát huy có hiệu quả công tác xã hội hoá, theo Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao, Nghị quyết số 47/2006/NQ-HĐND ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Hội đồng nhân dân thành phố về xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục - thể thao trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010 và các chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập, Quyết định số 13/2007/QĐ-UBND ngày 14 tháng 02 năm 2007 của UBND thành phố Ban hành Đề án đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động giáo dục trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, nhằm huy động mọi nguồn lực của xã hội để phát triển giáo dục thường xuyên.

Bên cạnh những chính sách chung do Chính phủ quy định, thành phố có những chính sách cụ thể khuyến khích và quy định trách nhiệm các ngành, địa phương, các tổ chức kinh tế - xã hội và người sử dụng lao động tham gia xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ kinh phí cho người học. Ngân sách thành phố tập trung nâng cấp, sửa chữa, xây mới các Trung tâm Giáo dục thường xuyên, Giáo dục thường xuyên - hướng nghiệp, Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp.