vanban.org

Điều 10. Cơ chế kiểm tra chất lượng thuốc thú y — Quyết định 72/2007/QĐ-BNN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/07/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 19/07/2016 Thay thế: 13/2016/TT-BNNPTNT · 02/06/2016 Sửa đổi, bổ sung: 100/2007/QĐ-BNN · 03/12/2007
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành 06/08/2007 Hiệu lực 07/09/2007 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 19 năm
Quyết định số 72/2007/QĐ-BNN Ban hành Quy định kiểm tra chất lượng thuốc thú y · 72/2007/QĐ-BNN
19/07/201613/2016/TT-BNNPTNTThay thế Đang xem 03/12/2007100/2007/QĐ-BNNSửa đổi 07/09/2007Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 72/2007/QĐ-BNN › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Cơ chế kiểm tra chất lượng thuốc thú y

1. Đối với thuốc thú y đã có trong Danh mục được phép lưu hành thì không kiểm tra chất lượng theo từng lô hàng mà kiểm tra theo quy định  sau:

a) Kiểm tra định kỳ:

Hàng năm, căn cứ tình hình thực tế, Cục Thú y tổ chức lấy mẫu thuốc thú y định kỳ tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, bảo quản, vận chuyển để kiểm tra chất lượng.

b) Kiểm tra đột xuất: Được thực hiện khi có khiếu nại, tố cáo về chất lượng thuốc thú y hoặc theo yêu cầu của các cơ quan có thẩm quyền.

2. Trước khi nhập khẩu nguyên liệu đã có tên trong Danh mục thuốc thú y được phép lưu hành tại Việt Nam nhưng chưa có số đăng ký; dung môi, phụ liệu, hóa chất làm thuốc thú y, Doanh nghiệp phải lập hồ sơ theo quy định tại khoản 2 Điều 11 của bản Quy định này và gửi về Cục Thú y.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Cục Thú y thẩm định và xác nhận vào hồ sơ nhập khẩu để doanh nghiệp làm thủ tục thông quan

bỏ khoản 3

4. Thời hạn cơ quan kiểm tra trả lời kết quả kiểm nghiệm:

a) Đối với dược phẩm: Trong phạm vi 10 ngày làm việc, kể từ ngày lấy hoặc nhận mẫu. Trường hợp đặc biệt có thể đến 30 ngày.

b) Đối với vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật dùng trong thú y: Trong phạm vi 02 tháng. Trường hợp đặc biệt có thể đến 06 tháng.

Những trường hợp đặc biệt phải kéo dài thời hạn trả lời kết quả nêu tại điểm a, b Khoản 4 của Điều này, cơ quan kiểm tra phải nêu rõ nguyên nhân và thông báo cho khách hàng.