Điều 4. Phối hợp ấn định thuế
1. Trong thời hạn 15 ngày kể từ khi CSKT được cấp phép khai thác khoáng sản, được tiếp tục gia hạn khai thác khoáng sản, hoặc trong tháng 12 hàng năm (đối với đơn vị đang được phép khai thác), Cục thuế thống nhất với các cơ quan phối hợp thành lập tổ công tác để tiến hành điều tra, khảo sát, lập hồ sơ ấn định thuế đối với các trường hợp nêu tại Điều 2 quy chế này. Tổ công tác gồm đại diện các cơ quan: Cục thuế (tổ trưởng), Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, UBND huyện và cơ quan liên quan khác.
Mức thuế ấn định tối thiểu được xác định trên cơ sở thời điểm điều tra, khảo sát, gồm: sản lượng vàng đã điều tra, khảo sát; giá tính thuế; tỷ lệ giá trị gia tăng và tỷ lệ thu nhập chịu thuế trên doanh thu do Cục thuế ban hành và thuế suất theo quy định.
Việc xác định sản lượng và giá tính thuế thực hiện theo nguyên tắc:
- Sản lượng: Không thấp hơn sản lượng đã được xác định trong giấy phép khai thác hoặc dự án đầu tư đã được phê duyệt.
- Giá tính thuế: Giá tính thuế Tài nguyên theo giá UBND tỉnh ban hành thời điểm quyết định ấn định thuế. Giá tính thuế GTGT và giá tính thuế TNDN theo tài liệu điều tra, khảo sát.
2. Trách nhiệm của cơ quan thuế: Hướng dẫn trình tự phối hợp ấn định thuế; chuẩn bị điều kiện, phương tiện cho tổ công tác làm việc; chủ trì trong điều tra, khảo sát làm cơ sở ấn định thuế theo quy định.
3. Trách nhiệm của cơ quan phối hợp:
- Sở Tài chính: Chủ trì cùng các cơ quan phối hợp xác định giá tính thuế tài nguyên, giá tính thuế GTGT và giá tính thuế TNDN.
- Sở Tài nguyên và Môi trường: Chủ trì cùng các cơ quan phối hợp xác định sản lượng tính thuế, trao đổi tài liệu liên quan đến cấp phép khai thác, báo cáo và hồ sơ của cơ sở khai thác, tài liệu liên quan.
- Sở Công Thương: Phối hợp xác định hàm lượng quặng khoáng sản, sản lượng tính thuế.
- UBND huyện, thị xã: Tham gia điều tra, khảo sát và ấn định thuế, chỉ đạo ngành liên quan tích cực tham gia với cơ quan thuế trong quản lý thuế.
- Cơ quan liên quan khác: Xác định chỉ tiêu cần thiết, cung cấp tài liệu liên quan phục vụ cho quá trình điều tra khảo sát, ấn định thuế.
4. Trường hợp xác định lại mức thuế đã ấn định: Cơ sở khai thác được cấp phép khai thác trong năm không đủ 12 tháng; cơ sở khai thác đang được phép khai thác khoáng sản, nếu trong năm cấp có thẩm quyền yêu cầu dừng khai thác, đình chỉ khai thác hoặc do nguyên nhân bất khả kháng khác mà dẫn đến tổng thời gian khai thác thực tế dưới 12 tháng và thực sự làm giảm sản lượng khai thác thì Cục thuế chủ trì cùng các cơ quan phối hợp xem xét hồ sơ để xác định lại mức thuế đã ấn định cho từng trường hợp cụ thể.
Thời hạn xem xét xác định lại mức thuế ấn định: trong tháng 12 năm dương lịch hoặc 30 ngày kể từ ngày chấm dứt hoạt động khai thác tại mỏ (đối với mỏ đã hết hạn khai thác hoặc không được tiếp tục khai thác).
Hồ sơ xem xét lại mức thuế ấn định:
- Cơ sở khai thác có đơn đề nghị gửi Chi cục thuế, ngành liên quan kèm theo văn bản xác nhận của cơ quan chuyên môn và UBND xã, UBND huyện nơi có mỏ khai thác.
- Nội dung xác nhận gồm: Thời gian được cấp phép khai thác trong năm, thời gian thực tế không hoạt động khai thác khoáng sản, căn cứ và số liệu về sản lượng giảm so với sản lượng đã ấn định, kèm theo các tài liệu chứng minh.