vanban.org

Điều 5. Điều kiện thu hồi đất đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng h oặc chậm đưa đất vào sử dụng — Quyết định 69/2022/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 31/12/2025
Long An Ban hành 30/12/2022 Hiệu lực 10/01/2023 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 69/2022/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Điều kiện thu hồi đất đối với trường hợp không đưa đất vào sử dụng h oặc chậm đưa đất vào sử dụng

1. Trường hợp bên thuê đất, thuê lại đất không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng so với tiến độ đã giao kết trong hợp đồng thuê đất, thuê lại đất hoặc so với tiến độ sử dụng đất, tiến độ thực hiện dự án tại văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; trừ trường hợp bất khả kháng quy định tại khoản 1 Điều 15 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Đất đai thì doanh nghiệp đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng có trách nhiệm thực hiện như sau:

- Lập văn bản yêu cầu bên thuê đất, thuê lại đất thực hiện các biện pháp để đưa đất vào sử dụng; nội dung văn bản phải xác định cụ thể diện tích, tiến độ sử dụng đất có ký xác nhận của bên thuê đất, thuê lại đất.

- Lập danh sách các trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Ban Quản lý Khu kinh tế, Ủy ban nhân dân cấp huyện. Các cơ quan nhận được báo cáo và doanh nghiệp đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng có trách nhiệm công bố công khai danh sách các trường hợp không đưa đất vào sử dụng hoặc chậm đưa đất vào sử dụng trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị.

2. Trường hợp doanh nghiệp đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng đã thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này mà bên thuê đất, thuê lại đất vẫn không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng thì doanh nghiệp đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng có trách nhiệm gửi báo cáo, kiến nghị bằng văn bản cho Ban Quản lý Khu kinh tế, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp huyện.