vanban.org

Điều 6. Phương pháp đo đếm gỗ — Quyết định 69/2001/QĐ-BNN-KL

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2006 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/07/2006 Thay thế: 44/2006/QĐ-BNN · 01/06/2006 Sửa đổi, bổ sung: 01/2002/QĐ-BNN-KL · 02/01/2002
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành 26/06/2001 Hiệu lực 11/07/2001 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 5 phiên bản · 25 năm
Quyết định số 44/2006/QĐ-BNN Về việc ban hành Quy chế quản lý và đóng búa bài cây, búa kiểm lâm · 44/2006/QĐ-BNN
Quyết định số 69/2001/QĐ-BNN-KL Về việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng búa Bài cây và búa Kiểm lâm. · 69/2001/QĐ-BNN-KL
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 69/2001/QĐ-BNN-KL › Chương I › Điều 6
Đọc toàn văn

Điều 6. Phương pháp đo đếm gỗ

1. Đối với gỗ tròn

a) Đo chiều dài: Dùng thước dây để đo, phải đặt thẳng thước, sau mỗi thước đo phải vạch dấu, rồi mới đo tiếp. Nếu hai đầu gỗ cắt bằng thì đo từ mặt cắt ngang đầu gỗ này đến mặt cắt ngang đầu gỗ kia; nếu một đầu gỗ cắt xiên, lệch thì đo ở đầu mép cắt có chiều dài ngắn nhất; nếu đầu gỗ có sẹo, bịn thì đo từ mép trong lỗ sẹo; đơn vị tính mét (m) lấy 2 số lẻ.

b) Đo đường kính (hoặc vanh): Dùng thước kẹp hoặc thước dây không co dãn để đo, đo đường kính (hoặc vanh) hai đầu cây gỗ cả dác, không kể vỏ.

Nếu đo bằng thước kẹp hoặc thước dây phải đo ở hai đầu lóng (khúc) gỗ, cách mặt cắt ngang mỗi đầu lóng (khúc) gỗ 10 cm, lấy số trung bình cộng, đơn vị tính cen ti mét (cm), lấy một số lẻ, phải đặt thước thẳng góc thân cây.

c) Chủ rừng hay chủ gỗ ghi vào lý lịch gỗ loại thước kẹp hay thước dây đã dùng khi đo gỗ, các đơn vị có chức năng kiểm tra cũng phải dùng loại thước đó để đo lại gỗ.

2. Đối với gỗ xẻ, gỗ đẽo: đo đếm cụ thể từng hộp, phách, tấm, gỗ đẽo theo ba chiều: chiều dày và chiều rộng đơn vị tính cen ti mét (cm), lấy một số lẻ; chiều dài đơn vị tính mét (m) và lấy hai số lẻ để tính khối lượng gỗ.

Trường hợp các mặt gỗ xẻ hoặc mặt gỗ đẽo bị chéo, không tạo thành hình hộp thì đo ở các chiều có kích thước nhỏ nhất.

3. Đối với gỗ bổ đôi, bổ tư: trên cơ sở gỗ đã được bổ, xác định đường kính bình quân cây gỗ, từ đó tính khối lượng cây gỗ đã được bổ, nếu bổ đôi thì lấy khối lượng cây gỗ chia hai, bổ tư thì chia tư, sau đó tính khối lượng từng loại gỗ

.4. Sai số cho phép trong đo đếm về khối lượng đối với gỗ tròn là ± 10%, gỗ xẻ là ± 5%.

5. Trường hợp gỗ có khuyết tật như rỗng ruột, mục trong, mục ngoài...thì được trừ phần khối lượng gỗ khuyết tật đó trong quá trình đo đếm. Phương pháp xác định gỗ rỗng ruột, mục trong, mục ngoài như sau:

a) Rỗng ruột, mục trong: đo đường kính lớn nhất gỗ bị rỗng ruột, mục trong ở mặt cắt ngang lóng (khúc) gỗ, đo chiều dài phần gỗ bị rỗng ruột, mục trong; tính khối lượng gỗ bị rỗng ruột, mục trong, lấy khối lượng của lóng (khúc) gỗ trừ khối lượng gỗ bị rỗng ruột, mục trong, được khối lượng gỗ thực tế sử dụng.

b) Mục ngoài: đo chỗ mục sâu nhất (d) của mặt cắt ngang lóng (khúc) gỗ; lấy đường kính của cả lóng (khúc) gỗ (D) trừ đường kính phần mục (d); sau đó tính khối lượng thực tế sử dụng.

c) Khối lượng gỗ khuyết tận được trừ do rỗng ruột, mục trong, mục ngoài của từng lóng (khúc) phải ghi vào lý lịch gỗ, làm cơ sở cho các đơn vị có chức năng kiểm tra khi tiến hành phúc tra khối lượng.