Điều 5. Mức thanh toán sử cước phí sử dụng điện thoại (kể cả tiền thuê bao) hàng tháng được quy định như sau:
1. Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND Thành phố: mức thanh toán khoán chi 300.000đồng/máy/tháng đối với điện thoại cố định và 500.000 đồng/máy/tháng đối với điện thoại di động.
2. Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND Thành phố: mức thanh toán khoán chi 200.000đồng/máy/tháng đối với điện thoại cố định và 400.000 đồng/máy/tháng đối với điện thoại di động.
3. Các cán bộ có chức danh nêu tại Khoản 3, 4, 5, 6 Điều 2 được thanh toán mức khoán chi 100.000đồng/máy/tháng đối với điện thoại cố định và 250.000 đồng/máy/tháng đối với điện thoại di động (nếu được trang bị).
4. Mức thanh toán quy định trên được tính theo hàng tháng, không được bù trừ giữa các tháng trong năm và được nhận cùng với kỳ nhận lương hàng tháng để thanh toán trực tiếp với ngành Bưu điện. Trường hợp đặc biệt các cán bộ phải trực tiếp tham gia công tác tìm kiếm, cứu nạn, phòng chống và khắc phục thiên tai thì trong thời gian thực hiện nhiệm vụ được thanh toán theo thực tế sau khi được Thủ trưởng cơ quan phê duyệt.
Cán bộ được trang bị điện thoại cố định tại nhà riêng và điện thoại di động, khi chuyển sang đảm nhận công tác mới không thuộc diện được trang bị điện thoại hoặc khi có quyết định nghỉ hưu, nghỉ công tác nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì phải làm thủ tục chuyển hợp đồng sử dụng điện thoại về gia đình để tự thanh toán cước phí với cơ quan bưu điện.
Riêng đối với các cán bộ có chức danh nêu tại Khoản 1, Khoản 2 của Điều 2, được tiếp tục thanh toán khoán chi cước phí sử dụng điện thoại cố định (kể cả thuê bao) trong thời gian 03 tháng, kể từ ngày có quyết định nghỉ hưu, nghỉ công tác.