Điều 21. Hội đồng kiểm tra, sát hạch
1. Khi tiếp nhận các trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP vào làm công chức cấp xã, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch. Thành phần Hội đồng kiểm tra, sát hạch được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Quy chế này.
Không thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch khi tiếp nhận các trường hợp quy định tại điểm c, d, khoản 1 Điều 14 Nghị định số 33/2023/NĐ-CP vào công chức cấp xã.
2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng kiểm tra, sát hạch; nội dung sát hạch; nguyên tắc làm việc của Hội đồng kiểm tra, sát hạch được thực hiện theo quy định tại khoản 4 Điều 18 Nghị định số 138/2020/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 11 Điều 1 Nghị định số 116/2024/NĐ-CP).
Hội đồng kiểm tra, sát hạch quyết định thành lập Tổ Thư ký giúp việc trong trường hợp cần thiết. Hội đồng kiểm tra, sát hạch tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định tiếp nhận công chức cấp xã theo thẩm quyền.
4. Không bố trí những người có quan hệ vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ; cha, mẹ (vợ hoặc chồng), cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi; anh, chị, em ruột; cô, dì, chú, bác, cậu ruột; anh, chị, em ruột của vợ hoặc chồng; vợ hoặc chồng của anh, chị, em ruột của người dự kiểm tra, sát hạch; những người đang trong thời hạn xử lý kỷ luật hoặc đang thi hành quyết định kỷ luật; những người đã bị xử lý về hành vi tham nhũng, tiêu cực làm thành viên Hội đồng kiểm tra, sát hạch.