vanban.org

Điều 3. Tổ chức thực hiện. — Quyết định 656-TTg

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 28/09/1996 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Thủ tướng Chính phủ Ban hành 13/09/1996 Hiệu lực 28/09/1996 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 656-TTg › Điều 3
Đọc toàn văn

Điều 3. Tổ chức thực hiện.

1. Các Bộ, ngành căn cứ vào chức năng và quyền hạn của mình chủ trì cùng với các tỉnh Tây Nguyên, tổ chức chỉ đạo thực hiện các chương trình, dự án cụ thể thuộc phạm vi chỉ đạo của Bộ, ngành mình theo các mục tiêu và nội dung của Quyết định này.

Trên cơ sở các chương trình, dự án đã được phê duyệt cần phải có kế hoạch cụ thể thời kỳ 5 năm, 10 năm và kế hoạch hàng năm, bắt đầu từ năm 1997, để tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện theo mục tiêu chương trình, dự án đã đề ra.

Mỗi Bộ, ngành có liên quan cần cử cán bộ chuyên môn, kỹ thuật giỏi, am hiểu sâu sắc Tây Nguyên để theo dõi giúp lãnh đạo Bộ trong việc phối kết hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên cũng như các Bộ, ngành có liên quan cùng Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên thực hiện.

Định kỳ hàng quý, hàng năm, trong báo cáo đánh giá kết quả công tác của Bộ, ngành phải có kiểm điểm đánh giá thực hiện chương trình công tác ở Tây Nguyên, phát hiện những khó khăn trở ngại để có biện pháp khắc phục.

2- Uỷ ban nhân dân các cấp ở các tỉnh Tây Nguyên phải xác định các nội dung trong Quyết định này là nhiệm vụ chủ yếu của các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương để cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch của từng ngành chuyên môn, từng cấp chính quyền tỉnh, huyện, xã để tổ chức thực hiện.

Trước hết lựa chọn xác định một số chương trình mục tiêu, nội dung cụ thể của địa phương có yêu cầu cấp bách để tổ chức chỉ đạo thực hiện trong quý 4 năm 1996 và năm 1997, và có kế hoạch cụ thể thực hiện nội dung của Quyết định này trong các năm tiếp theo.

Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên cần phải xin ý kiến của tỉnh uỷ để có chủ trương và biện pháp cụ thể nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, điện...) đưa ra Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét quyết định, tạo được phong trào toàn dân làm mọi nghĩa vụ công ích.

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phải có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành Trung ương trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình dự án đề ra.

3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan, Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên xây dựng các chương trình về phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp, khai thác quản lý sử dụng nguồn nước, định canh định cư di dân và phát triển kinh tế mới.

4. Bộ Giao thông Vận tải cùng với Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên lập quy hoạch và kế hoạch và chỉ đạo thực hiện phát triển giao thông Tây Nguyên.

5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng các ngành có liên quan thẩm định quy hoạch tổng thể Tây Nguyên trình Thủ tướng Chính phủ quyết định vào tháng 10/1996, để làm cơ sở xây dựng cụ thể các chương trình dự án triển khai ngay từ đầu năm 1997.

Nghiên cứu xây dựng chính sách và cơ chế nhằm khuyến khích và thu hút các nguồn lực để thực hiện Quyết định này.

Trên cơ sở các chương trình dự án được phê duyệt, Bộ phải bố trí kế hoạch ngân sách năm 1997 và những năm tiếp theo cho các chương trình dự án được thực hiện theo mục tiêu đã đề ra trong Quyết định này.

6. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên nghiên cứu chính sách tái đầu tư trở lại do khai thác nguồn thuỷ điện và tài nguyên rừng ở Tây Nguyên trình Thủ tướng Chính phủ quyết định.

7. Thành lập ban Chỉ đạo Tây Nguyên gồm lãnh đạo các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và một số Bộ, ngành có liên quan. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trưởng ban chỉ đạo.