Điều 2. Quy định một số nội dung thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng
1. Các cơ sở sản xuất công nghiệp có sử dụng nguồn nước cho sản xuất công nghiệp thuộc các ngành nghề theo quy định tại Phụ lục VIII Nghị định số 91/2024/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ thuộc các trường hợp khai thác tài nguyên nước phải có giấy phép theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 54/2024/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ quy định việc hành nghề khoan nước dưới đất, kê khai, đăng ký, cấp phép, dịch vụ tài nguyên nước và tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước.
Mức sử dụng nước phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng cụ thể như sau:
a) Đối với nước dưới đất (nước ngầm): từ trên 10 m3/ngày đêm.
b) Đối với nước mặt: từ trên 100 m3/ngày đêm.
2. Các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng giải trí quy định tại điểm d khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp, bao gồm: Các hoạt động dịch vụ lữ hành, vận tải khách du lịch, lưu trú du lịch, dịch vụ ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi giải trí, chăm sóc sức khỏe, tham quan, quảng cáo trong phạm vi khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng của chủ rừng hoặc có vị trí tiếp giáp với khu rừng cung ứng dịch vụ môi trường rừng phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ. Trong trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Cao Bằng, mức chi trả bằng 1% doanh thu thực hiện trong kỳ.
3. Các cơ sở nuôi trồng thủy sản quy định tại điểm e khoản 2 Điều 63 Luật Lâm nghiệp là tổ chức nuôi trồng thủy sản hoặc liên kết với các hộ gia đình, cá nhân nuôi trồng thủy sản phải trả tiền dịch vụ môi trường rừng bằng 1% tổng doanh thu thực hiện trong kỳ. Trong trường hợp chi trả ủy thác thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Cao Bằng, mức chi trả bằng 1% doanh thu thực hiện trong kỳ.