Điều 6. Phân phối và sử dụng lãi thuđược từ cho vay bằng nguồn vốn uỷ thác
Định kỳ hàng quý, căn cứ vào số lãi cho vay thu được, NHCSXH có trách nhiệm tính toán phân bổ như sau:
1. Đối với các chương trình tín dụng (trừ chương trình cho vay giải quyết việc làm):
a. Chi trả hoa hồng cho Tổ tiết kiệm và vay vốn được NHCSXH ủy nhiệm thu lãi, thu tiền gửi tiết kiệm và phí ủy thác cho tổ chức Hội nhận ủy thác cho vay theo quy định hiện hành của NHCSXH.
b. Trích lập Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tối thiểu bằng tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo quy định từng thời kỳ của NHCSXH. Trường hợp rủi ro bất khả kháng mà hộ vay được các cấp có thẩm quyền cho miễn, hoặc giảm lãi, hoặc quỹ dự phòng rủi ro được trích lập không đủ thì NHCSXH báo cáo Sở Tài chính đề xuất UBND tỉnh xem xét giải quyết.
Số dư Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tối đa bằng tổng số dư nợ quá hạn và nợ khoanh tại thời điểm trích lập. Trường hợp số dư Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng lớn hơn số dự phòng phải trích lập, NHCSXH tỉnh thực hiện hoàn nhập phần chênh lệch thừa vào thu nhập của NHCSXH.
c. Trích 10% số lãi thực thu để chi phí cho hoạt động Ban Đại diện Hội đồng quản trị NHCSXH các cấp, chi khen thưởng cho những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động cho vay hộ nghèo và đối tượng chính sách khác.
d. Phần còn lại bù đắp một phần chi phí quản lý theo quy định của NHCSXH, bao gồm: các khoản chi về dịch vụ thanh toán, vật liệu giấy tờ in, ngân quỹ, chi phí vận chuyển tiền giải ngân tại Điểm giao dịch xã, chi phí cho nhân viên, chi hoạt động quản lý và công vụ, chi về tài sản, chi hỗ trợ đôn đốc thu hồi nợ xấu, nợ khó đòi, các khoản chi khác...
2. Đối với chương trình cho vay giải quyết việc làm:
a. Chi trả hoa hồng cho Tổ tiết kiệm và vay vốn được NHCSXH ủy nhiệm thu lãi, thu tiền gửi tiết kiệm và phí ủy thác cho tổ chức Hội nhận ủy thác cho vay theo quy định hiện hành của NHCSXH.
b. Trích lập Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tối thiểu bằng tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng rủi ro theo quy định từng thời kỳ của NHCSXH. Trường hợp rủi ro bất khả kháng mà hộ vay được các cấp có thẩm quyền cho miễn, hoặc giảm lãi, hoặc quỹ dự phòng rủi ro được trích lập không đủ thì NHCSXH báo cáo Sở Tài chính đề xuất UBND tỉnh xem xét giải quyết.
Số dư Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng tối đa bằng tổng số dư nợ quá hạn và nợ khoanh tại thời điểm trích lập. Trường hợp số dư Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng lớn hơn số dự phòng phải trích lập, NHCSXH thực hiện hoàn nhập phần chênh lệch thừa vào thu nhập của NHCSXH.
c. Trích 10% số tiền lãi thực thu để bổ sung tăng nguồn vốn cho vay.
d. Trích 15% số tiền lãi thu được để chi cho công tác quản lý, tổng hợp, kiểm tra, giám sát của cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương. Mức trích tỷ lệ % thực hiện theo Quyết định số 2318/QĐ-UBND ngày 05/7/2016 của UBND tỉnh về việc phê duyệt mức trích tỷ lệ % số tiền lãi thu được từ Quỹ Quốc gia về việc làm cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố.
Nội dung chi và mức chi theo quy định tại Điều 4 của Thông tư số 54/2016/TT-BTC ngày 21/3/2016 của Bộ Tài chính quy định về việc quản lý và sử dụng tiền lãi cho vay từ Quỹ Quốc gia về việc làm và Quyết định số 2490/QĐ-UBND ngày 16/7/2015 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt mức phụ cấp kiêm nhiệm của Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc Ban chỉ đạo Chương trình Giải quyết việc làm - Xuất khẩu lao động.
Căn cứ báo cáo kết quả thu lãi của NHCSXH, tỷ lệ được trích, Sở Tài chính quyết định phân phối cho các đơn vị được hưởng; kết quả phân phối, Sở Tài chính gửi UBND tỉnh để báo cáo, gửi Sở Lao động - Thương binh và Xã hội và Chi nhánh NHCSXH tỉnh phối hợp thực hiện.
đ. Phần còn lại bù đắp một phần chi phí quản lý theo quy định của NHCSXH, bao gồm: các khoản chi về dịch vụ thanh toán, vật liệu giấy tờ in, ngân quỹ, chi phí vận chuyển tiền giải ngân tại Điểm giao dịch xã, chi phí cho nhân viên, chi hoạt động quản lý và công vụ, chi về tài sản, chi hỗ trợ đôn đốc thu hồi nợ xấu, nợ khó đòi, các khoản chi khác...
3. Trường hợp UBND tỉnh chuyển vốn để cho vay chương trình tín dụng có lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay đối với hộ nghèo sản xuất kinh doanh hoặc quy định mức lãi suất cho vay thấp hơn lãi suất cho vay đối với hộ nghèo sản xuất kinh doanh thì UBND tỉnh phải cấp bù phần lãi chênh lệch lãi suất giữa chương trình cho vay với lãi suất cho vay hộ nghèo hiện hành.