vanban.org

Điều 20. Bàn giao và quản lý quỹ đất đã thu hồi — Quyết định 64/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/04/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 10/04/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 29/2025/QĐ-UBND · 31/03/2025
Thừa Thiên Huế Ban hành 25/09/2014 Hiệu lực 05/10/2014 Hết hiệu lực toàn bộ 2 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 64/2014/QĐ-UBND Ban hành quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế · 64/2014/QĐ-UBND
10/04/202529/2025/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 05/10/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 64/2014/QĐ-UBND › Chương III › Điều 20
Đọc toàn văn

Điều 20. Bàn giao và quản lý quỹ đất đã thu hồi

1. Trong thời hạn 20 (hai mươi) ngày kể từ ngày Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chi trả xong tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi theo phương án đã được xét duyệt thì người có đất thu hồi phải bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng hoặc thời hạn có thể sớm hơn nếu người có đất thu hồi tự nguyện, ủng hộ việc sớm bàn giao mặt bằng để triển khai dự án.

Việc bàn giao đất giữa Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và người có đất thu hồi phải lập thành biên bản và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi.

2. Sau khi đã thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất có trách nhiệm phối hợp với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng quản lý quỹ đất đã thu hồi.

3. Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện.

4. Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất (mẫu số 06) và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 Luật Đất đai năm 2013.