vanban.org

Điều 8. Soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước — Quyết định 64/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Cần Thơ Ban hành 29/07/2008 Hiệu lực 08/08/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 64/2008/QĐ-UBND › Chương III › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước

1. Việc soạn thảo, in, sao, chụp tài liệu, vật mang bí mật nhà nước phải thực hiện theo các quy định sau đây:

a) Người được giao nhiệm vụ soạn thảo, in, sao tài liệu bí mật nhà nước phải nắm vững Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước, Nghị định số 33/2002/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ và Thông tư số 12/2002/TT-BCA ngày 13 tháng 9 năm 2002 của Bộ Công an về danh mục bí mật nhà nước và Quy chế này;

b) Khi soạn thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước, người soạn thảo văn bản đề xuất độ mật từng tài liệu, người duyệt ký văn bản chịu trách nhiệm đóng dấu độ mật và phạm vi lưu hành tài liệu. Đối với vật mang bí mật nhà nước phải có văn bản ghi rõ tên của vật lưu kèm theo và đóng dấu độ mật vào văn bản này;

c) Việc in, sao, chụp các tài liệu có độ mật phải được sự đồng ý bằng văn bản của người có trách nhiệm lập danh mục bí mật nhà nước. Phải ghi rõ số lượng in ấn, sao chụp, nơi nhận.

d) Đánh máy, in, sao, chụp tài liệu phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy trình bảo mật đã được quy định; không được sử dụng máy tính nối mạng Internet để đánh máy, in, sao tài liệu mật; tổ chức soạn thảo in, sao, chụp… phải ở nơi an toàn, đảm bảo yếu tố bí mật, ấn định các độ mật tài liệu soạn thảo, in, sao, chụp...;  

đ) Bộ phận văn thư - lưu trữ và người được giao xử lý tài liệu mật có trách nhiệm vào sổ phân phối để theo dõi, quản lý thu hồi theo quy định (các dấu độ mật, dấu thu hồi... theo mẫu thống nhất do Bộ Công an quy định).

2. Bí mật nhà nước ở dạng băng, đĩa khi sao chụp phải được niêm phong và đóng dấu độ mật, ghi rõ tên người sao chụp ở bì niêm phong.