vanban.org

Điều 11. Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập trong Vườn quốc gia Bái Tử Long — Quyết định 635/2012/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 01/04/2012 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Quảng Ninh Ban hành 22/03/2012 Hiệu lực 01/04/2012 Còn hiệu lực 1 bản án áp dụng
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 635/2012/QĐ-UBND › Chương III › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thực tập trong Vườn quốc gia Bái Tử Long

1. Đối với Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long khi thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học phải tuân thủ các quy định sau:

a) Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long lập kế hoạch nghiên cứu khoa học hoặc phối hợp với các cơ quan khoa học trong nước và nước ngoài để xây dựng chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học ngắn hạn và dài hạn trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

b) Kết quả nghiên cứu khoa học phải được báo cáo định kỳ hàng năm lên cơ quan quản lý cấp trên và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Các chương trình dự án, đề tài nghiên cứu khoa học khi kết thúc phải được tổng kết và bàn giao thành quả để ứng dụng.

2. Đối với tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có các hoạt động thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, các chuyên đề, dự án, thực tập, thực hành trong Vườn quốc gia Bái Tử Long phải tuân thủ thực hiện các quy định sau:

a) Các tổ chức, cá nhân trong nước có nhu cầu về nghiên cứu, giảng dạy hoặc thực tập trong Vườn quốc gia Bái Tử Long phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long.

b) Các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ và cá nhân nước ngoài tiến hành nghiên cứu khoa học hoặc phối hợp với tổ chức, cá nhân trong nước tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học trong Vườn quốc gia Bái Tử Long phải được các cấp có thẩm quyền phê duyệt, cho phép theo quy định của pháp luật hiện hành và được sự thoả thuận của Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long.

c) Khi tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học, phải tuân thủ sự hướng dẫn, kiểm tra của Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long; không được gây ảnh hưởng đến tính nguyên vẹn của hệ sinh thái, không được thu mẫu vật trái phép. Chỉ được thực hiện theo phương pháp quan sát, ghi chép, quay phim, chụp ảnh.

d) Sau mỗi đợt nghiên cứu, chậm nhất là hai (02) tuần, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học phải gửi báo cáo về các hoạt động và mức độ ảnh hưởng đến rừng, biển trong khu vực Vườn quốc gia. Sau khi công bố kết quả nghiên cứu, chậm nhất hai (02) tháng phải báo cáo kết quả nghiên cứu, khảo sát điều tra cho cơ quan cấp phép và Ban Quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long.

đ) Việc sưu tầm mẫu vật hay trao đổi mẫu vật tại Vườn quốc gia Bái Tử Long với bất kỳ mục đích gì đều phải thực hiện theo Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/03/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển; phải làm rõ số loài, số lượng mẫu vật, gen sưu tầm và thời gian sưu tầm; được Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long hướng dẫn, quản lý, kiểm tra, giám sát, xác nhận; phải nộp thuế tài nguyên và các khoản chi phí khác cho Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đưa mẫu vật ra nước ngoài phải được Văn phòng CITES Việt Nam cấp phép.

3. Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long phải cử người hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các tổ chức, cá nhân thực hiện các quy định nêu trên khi tiến hành chuyên đề, đề tài nghiên cứu khoa học trong Vườn quốc gia Bái Tử Long.

4. Nếu tổ chức, cá nhân vi phạm một trong các quy định trên, Ban quản lý Vườn quốc gia Bái Tử Long lập biên bản, tạm đình chỉ các hoạt động nghiên cứu, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.