Điều 6. Phối hợp trong việc rà soát, tìm người nhận trẻ em làm con nuôi
1. Định kỳ 06 tháng, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm rà soát, đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi đối với các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa đang được cá nhân, gia đình, tổ chức tạm thời nuôi dưỡng hoặc chăm sóc thay thế. Nếu có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã xem xét, giải quyết hoặc hướng dẫn giải quyết việc nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật. Nếu không có công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em làm con nuôi, Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản kèm theo hồ sơ trẻ em gửi Sở Tư pháp để tìm người nhận trẻ em làm con nuôi.
2. Cơ sở trợ giúp xã hội có trách nhiệm đánh giá việc trẻ em cần được nhận làm con nuôi đối với các trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em không nơi nương tựa sống ở cơ sở trợ giúp xã hội. Tiến hành lập hồ sơ trẻ em bao gồm các giấy tờ, tài liệu theo quy định của Luật Nuôi con nuôi, xin ý kiến của cơ quan chủ quản về việc tìm người nhận con nuôi.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, cơ quan chủ quản có ý kiến để cơ sở trợ giúp xã hội gửi Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ trẻ em để thông báo tìm người nhận con nuôi.
3. Khi tiếp nhận hồ sơ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, nếu có công dân Việt Nam thường trú trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, Sở Tư pháp kiểm tra các điều kiện của người nhận con nuôi, giới thiệu và chuyển hồ sơ trẻ em đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có thẩm quyền giải quyết việc nuôi con nuôi để xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Trường hợp không có công dân Việt Nam thường trú trong nước đăng ký nhu cầu nhận con nuôi, Sở Tư pháp thông báo tìm người nhận trẻ em làm con nuôi theo phương thức và thời hạn quy định của Luật nuôi con nuôi.