Điều 10. Các khoản thu quy định tại các Điều 5 (khoản 2), Điều 7 và Điều 8 của Quy chế này phải được quản lý, phân phối, sử dụng theo đúng chế độ quản lý tài chính hiện hành của Nhà nước và các quy định sau đây:
- Tiền hoa hồng chữ ký nộp ngân sách Nhà nước 100%, các loại hoa hồng dầu khí khác được để lại 50%, nộp ngân sách Nhà nước 50%.
- Tiền đọc và sử dụng tài liệu dầu khí được để lại 70%, nộp ngân sách Nhà nước 30%.
- Các khoản tài trợ có mục đích của nước ngoài cho Tổng công ty được giữ lại 100% để sử dụng theo các mục đích tài trợ.
- Dầu, khí thu hồi để hoàn trả vốn đầu tư và bù đắp chi phí được giữ lại 100% cho mục đích hoàn trả các nguồn hình thành tương ứng.
- Đối với phần lãi sau thuế được chia từ vốn góp của Tổng công ty trong các dự án khai thác dầu khí, được để lại trích lập các quỹ tài chính tập trung cho mục đích phát triển ngành dầu khí theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.
- Đối với phần lãi sau thuế mà Tổng công ty được chia trong các hợp đồng chia sản phẩm với tư cách đại diện cho nước chủ nhà, cũng như phần lãi được chia từ Xí nghiệp liên doanh "VIETSOVPETRO", Tổng công ty phải nộp ngân sách Nhà nước 95%, được giữ lại 5% để đáp ứng nhu cầu tài chính cho phát triển sản xuất, nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ nhằm đảm bảo hiệu quả ngày càng cao trong các hoạt động quản lý, giám sát các nhà thầu và Xí nghiệp liên doanh "VIETSOVPETRO".
- Đối với đơn vị cơ sở hạch toán kinh tế độc lập, được Tổng công ty uỷ quyền tham gia liên doanh các hợp đồng dầu khí, thì lãi được chia sau thuế được để lại một phần lập các quỹ xí nghiệp, phần còn lại nộp Tổng công ty thành lập quỹ tập trung, tỷ lệ cụ thể do Tổng công ty đề nghị, Bộ Tài chính phê duyệt.