vanban.org

Điều 8. Trách nhiệm, điều kiện và thẩm quyền của lực lượng dân phòng trong quản lý, sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ — Quyết định 61/2026/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 13/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Vĩnh Long Ban hành 02/07/2026 Hiệu lực 13/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 61/2026/QĐ-UBND › Chương II › Điều 8
Đọc toàn văn

Điều 8. Trách nhiệm, điều kiện và thẩm quyền của lực lượng dân phòng trong quản lý, sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ

1. Trách nhiệm trong quản lý, sử dụng phương tiện

a) Tổ chức tiếp nhận phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được trang bị; đề xuất Công an cấp xã trình Ủy ban nhân dân cùng cấp phê duyệt phương án, kế hoạch quản lý, sử dụng phương tiện cho phù hợp với điều kiện thực tế và bảo đảm an toàn, hiệu quả theo Quy chế này và đúng quy định pháp luật có liên quan;

b) Quản lý Sổ theo dõi phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ theo Mẫu số 01 Phụ lục VI kèm theo Thông tư số 36/2025/TT-BCA;

c) Phân công cụ thể người chịu trách nhiệm quản lý kho, nơi bảo quản phương tiện của lực lượng dân phòng. Trường hợp phương tiện được bảo quản tại nhiều địa điểm hoặc giao cho cá nhân quản lý tại nơi cư trú, phải phân công rõ trách nhiệm của người phụ trách từng địa điểm hoặc cá nhân được giao quản lý;

d) Tổ chức bảo quản, bảo dưỡng phương tiện được trang bị để duy trì chất lượng, tình trạng kỹ thuật tốt nhất của phương tiện, tránh hư hỏng, mất mát hoặc sử dụng sai mục đích;

đ) Tổ chức kiểm tra việc bảo quản, bảo dưỡng phương tiện thường xuyên và sau mỗi lần thực hiện nhiệm vụ. Khi phát hiện phương tiện bị mất, hư hỏng, hết niên hạn sử dụng phải báo cáo, đề xuất người có thẩm quyền sửa chữa, bổ sung, thay thế kịp thời;

e) Tổ chức sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được trang bị theo đúng quy định;

g) Định kỳ, thống kê, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp xã (qua Công an cấp xã) nơi trực tiếp quản lý về tình hình quản lý, bảo quản, bảo dưỡng, sử dụng phương tiện bảo đảm các nội dung quy định tại Điều 7 Thông tư số 36/2025/TT-BCA và các quy định tại Quy chế này.

2. Điều kiện đối với thành viên Đội dân phòng được giao sử dụng phương tiện

a) Thành viên Đội dân phòng phải có đủ sức khỏe, đã được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ mới được giao sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ;

b) Khi sử dụng phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ phải bảo đảm an toàn, đúng mục đích, yêu cầu nhiệm vụ; tuân thủ quy trình kỹ thuật vận hành của từng loại phương tiện.

3. Thẩm quyền và các trường hợp sử dụng phương tiện

Thành viên Đội dân phòng được sử dụng các loại phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được trang bị (kể cả những phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ được trang bị thêm ngoài danh mục quy định tại Phụ lục I kèm theo Thông tư số 36/2025/TT-BCA) trong các trường hợp sau:

a) Theo mệnh lệnh của người chỉ huy chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ khi thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ;

b) Theo mệnh lệnh của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp khi thực hiện nhiệm vụ ứng phó sự cố, thiên tai và các nhiệm vụ khác theo quy định pháp luật;

c) Trong trường hợp khẩn cấp, cần thiết sử dụng phương tiện thì sau khi sử dụng phải báo cáo ngay cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao quyền quản lý.